Tuesday, November 16, 2010

XUNG ÐỘT VIỆT-MIÊN, HẬN THÙ HAY TRANH CHẤP BIÊN GIỚI ?


           
Trong lịch sử của thế giới, sự tranh chấp lãnh thổ của các quốc gia liên hệ là việc bình thường. Qua hai cuộc thế chiến 1 và 2, tại Âu Châu gần như không có nước nào không bị thay đổi diện tích và ranh giới. Gần nhất là Trung Cộng sau năm 1949, diện tích rộng lớn hơn so với thời trước, vì xâm lăng cưởng chiếm đất đai của nhiều quốc gia lân cận như Mãn Châu, Mông Cổ, Tây Tạng, Tân Cương kể cả biên giới và lãnh hải, hải đảo của VN. Trái lại nước Nga mất gần 1/2 lãnh thổ vì các nước cộng hòa tự trị đã dành lại độc lập sau khi đê quốc Sô Viết sụp đổ vào năm 1991. Mỹ, Mã Lai, Ấn Ðộ, Do Thái.. cũng đâu có khác biệt ? Nên tình trạng các nước trên bán đảo Ðông Dương cũng không ngoại lệ, vì vùng này chinh chiến triền miên, mạnh được yếu thua, đưa đến hậu quả hai vương quốc Phù Nam và Chiêm Thành, vì thua trận đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Vì người xưa chưa biết dùng giấy để ghi chép, mà chỉ xữ dụng lá thốt nốt, nên không giữ được những sử liệu quá 150 năm. Khi Pháp xâm chiếm Cao Mên vào năm 1864, đã căn cứ vào các tài liệu cổ của Trung Hoa, Ấn Ðộ, Việt Nam, cùng các di tích khám phá ở miền Thủy Chân Lạp và đền Angkor, để viết bộ sử Cao Mên. Căn cứ từ đó cho biết, Chân Lạp khởi thủy chỉ là một nước nhỏ trong vùng rừng núi Ratakini, giáp giới phía tay nam hai tỉnh Kon Tum , Pleiku và nước Lâm Ấp., cùng một chủng tộc với người Khmer, tức là Người Việt gốc Miên ở Miền Nam VN ngày nay.

            Năm 545 sau Tây Lịch (STL), Phù Nam và Chân Lạp đánh nhau. Cuộc chiến kéo dài trong 82 năm, cuối cùng Phù Nam bị diệt vong năm 627. Nhưng đất nước chỉ hợp nhất trong thời gian ngắn ngũi, rồi thì nội chiến, tranh dành ngôi vua, khiến Chân Lạp bị chia thành hai nước : Lục Chân Lạp hay Cao Mên ở phía bắc và Thủy Chân Lạp hay Chân Lạp, tức Miền Nam VN ngày nay. Tuy nhiên vào năm 802, vua Javavarman II lại thống nhất Chân Lạp, lấy lại tên nước cũ là Kampuja, đóng đô tại Ðền Angkor (Ðế Thiên-Ðế Thích) , mở đầu kỷ nguyên hùng mạnh, bành trướng đất đai tới Mã Lai và Chiêm Thành. Năm 1228 Chân Lạp bắt đầu suy tàn, nên luôn bị Thái Lan và Chiêm Thành tấn công, phải bỏ Angkor dời đô về Nam Vang (1434), rồi Lovek (1516) .. Từ năm 1594 Chân Lạp bị Thái Lan đô hộ, đất nước suy tàn từ đó. Ðồng lúc, Chiêm Thành cũng bị VN thôn tính vào năm 1697, khiến cho Kampuchia bị kẹt giữa hai quốc gia hùng mạnh đương thời, nên chỉ còn cách dựa vào một trong hai nước trên để sinh tồn. Tóm lại, sau khi chiếm được Phù Nam vào thế kỷ thứ VI, trải qua 11 thế kỷ, vua chúa Chân Lạp đã kh6ng hề thực hiện được một công trình gì, ngoài xây được ngôi Tháp Mười tầng ở Ðồng Tháp. Ðất đai hoàn toàn bỏ phế thành rừng buị, chứa đầy thú dư, chẳng những ở trên bờ, mà khắp sông rạch trong vùng, cũng đặt sệt điã mòng, cá sấu.. khiến cho ai mới đặt chân tới vùng này, cũng kinh hồn bạt vía trước cảnh ma thiêng nước độc.

            Năm Mậu Tuất (1658) thời Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần ở Nam Hà, người Việt được Vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân (Rama Thuppdey Chan) cho phép vào khai khẩn ruộng đất ở Vùng Mô Xoài (Bà Rịa) và Ðồng Nai (Biên Hòa), mở đầu cuộc giao tiếp Việt-Mên. Năm 1674, Vua Nặc Ông Nộn bị Nặc Ông Ðài dẫn quân Xiêm về cướp ngôi, phải chạy qua cầu cứu quân Nguyễn tại Dinh Thái Khang. Chúa Hiền Vương sai quân tiếp cứu, đuổi đánh Nặc Ông Ðài và quân Xiêm ra khỏi thành Sài Gòn và Nam Vang. Từ đó luôn luôn có sự tranh chấp trong Hoàng Tộc và mỗi lần được quân Nguyễn giúp đỡ, là mỗi lần cắt đất trả ơn, nên đến năm 1759 miền Thủy Chân Lạp, coi như hoàn toàn thuộc vào lãnh thổ của VN.

             Sau khi chiếm hết Nam Kỳ (1867), Pháp cũng đô hộ Chân Lạp từ năm 1864 và bắt đầu kiểm kê dân số. Riêng người Việt gốc Miên tại Miền Nam VN năm đó rất ít, chỉ có 146.718 người, trong lúc người Việt tới 1.732.316 người. Tình trạng dân số cũng không tăng cho mấy. Năm 1965 dưới thời VNCH, người Việt gốc Miên ở Miền Nam VN chừng 600.000 người, sống tập trung nhiều nhất tại Vĩnh Bình, Sóc Trang, Bạc Liêu, Châu Ðốc, An Giang, Kiên Giang, Chương Thiện.. Tại Sài Gòn có chừng 1000 người. Khi vua Gia Long thống nhất đất nước vào năm 1802, lúc đó người Việt gốc Miên tuy không đông lắm nhưng vẫn được triều đình xếp ngang hàng với người Việt. Vua còn đặt cho người Miên 6 họ “ Kim, Thạch, Sơn, Danh, Lâm.. và Châu “ để con cháu sau này dễ dàng truy tìm phả hệ, vì trước đó không có

1- Biên Giới Việt-Miên :

            Sau khi đặt xong nền đô hộ khắp toàn cõi Ðông Dương, Pháp đã phân định lại ranh giới hai thuộc địa Nam Kỳ và Cao Mên, vì thể chế hai xứ khác biệt. Do đó, từ năm 1870 tới khi trao trả độc lập cho Kampuchia vào năm 1953, Toàn quyền Ðông Dương và Quốc Vương Cao Mên, đã nhiều lần ấn định lại lằn ranh biên giới giữa Việt-Miên, qua các Nghị Ðịnh đồng ký vào ngày 9-7-1870, 15-7-1873 và các bản tu chỉnh đồng ký vào ngày 31-7-1914, 6-12-1935, 11-12-1936 và 26-7-1946. Cũng từ đó đất Nam Kỳ có tên trong bản đồ thế giới,qua cái tên do Pháp đặt là Cochinchine. Từ năm 1954 chế độ thực dân Pháp cáo chung trên bán đảo Ðông Dương, thuộc địa Nam Kỳ lại trở về với Mẹ VN, qua danh xưng Miền Nam VN và thủ đô của VNCH đóng tại Sài Gòn.

            Năm 1939, Toàn Quyền Pháp tại Ðông Dương là Jules Brevié chính thức cho vẽ lại bản đồ các nước Việt-Lào và Mên, để phân ranh giới hành chánh và an ninh tư pháp các địa phương. Ngoài ra cũng để phân chia rõ ràng các đảo cũng như lãnh hải của hai nước trong Vịnh Thái Lan. . Bản đồ ranh giới này từ đó đến nay vẫn được các nước trong vùng kể cả Trung Hoa tôn trọng, mệnh danh là đường ranh giới Brevié.

            Theo đó, từ bờ biển giữa hai nước tại Hà Tiên và Krong Keb, nhìn ra Vịnh Xiêm La (Gulf of Siam) , vẽ theo góc 140 độ. Ðảo Phú Quốc tuy nằm sâu trong lãnh hải Kampuchia tới 1,5 dặm nhưng vẫn thuộc phần lãnh thổ VN. Ðể tránh sự tranh chấp về sau, bản đồ Brevié đã cước chú “ Về vấn đề lãnh thổ, các đảo này giữ vị trí đặc biệt “..Nhưng tất cả rắc rối sau này, cũng đều do VC gây ra.

            Thật vậy, từ năm 1966 vì muốn lấy lòng Sihanouk và Khmer Ðỏ, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam MTGPMN), đã ký hứa sẽ tôn trong biên giới hai nước theo đường ranh Brevié năm 1939. Tại Hà Nội năm 1967, VC cũng đã ký “ Bản Tuyên Bố DRV “, nhân danh nước VN Dân Chủ Cộng Hòa tức Bắc Việt, công nhận biên giới hiện tại của Kampuchia theo đường ranh Brevié. Bời vậy, thừa dịp VC còn say men chiến thắng Miền Nam tại Sài Gòn, Polpot đã cho Khmer đỏ, tấn chiếm tàn sát đồng bào VN trên đảo Phú Quốc ngày 4-5-1975 và Ðảo Thổ Châu ngày 10-5-1975, bắt theo 500 người Việt. Ngày 12-6-1975,sau khi bị VC tái chiếm giải thoát hai đảo Phú Quốc, Thổ Châu và chiếm thêm đảo Puolao Wai của Mien, phái đoàn Polpot bí mật tới thăm Hà Nội, đòi ký hiệp ước hữu nghị về giao thông, lãnh sự và định mốc biên giới nhưng Hà Nội từ chối.

            Tháng 5-1976, Phan Hiền tới Nam Vang thảo luận với Polpot về lãnh hải, chấp nhận theo đường ranh Brevié năm 1939, những đảo và biển nằm phía bắc đường ranh (trừ quần đảo Phú Quốc ) là cũa Kampuchia. Phía nam đường ranh thuộc VN. Hiền còn đề nghị vẽ lại đường ranh mới cho phù hợp với chủ quyền các đảo nhưng bị Polpot từ chối, vì cho là VC muốn chiếm một phần lớn biển của Miên. Tháng 7-1977 Phan Hiền tới Paris bị báo chí phỏng vấn, tại sao năm 1967 đã ký công nhận đường ranh Brvié, mà không chịu giải thích về đảo Phú Quốc, Hiền cho biết vì lúc đó Hà Nội không để ý tới vấn đề lãnh hải. Mặt thật vì Phú Quốc thuộc lãnh hải VNCH, nên có bị Miên lấy cũng vậy thôi, giống như trường hợp Hoàng Sa và Trường Sa, vì thuộc lãnh thổ của Miền Nam, nên Hồ Chí Minh đã bán cho Trung Cộng vào năm 1958.

            Về vấn đề biên giới trên bộ giữa hai nước Việt-Miên, thực sự được đề cập sau năm 1954 khi ba nước Ðông Dương đã độc lập. Ðể có ấn tượng về đường biên giới, không gì xác thực hơn là sự hiện diện của 12 ngôi chợ trời biên giới, chạy dài từ ngả ba tam biên Việt-Miên-Lào), tới vùng đất cuối cùng Hà Tiên, nằm trên Vịnh Thái Lan. Thời Pháp thuộc, biên giới Miên Việt, được tượng trưng bằng những cột mốc, bảng hiệu cắm cạnh các quốc lộ, chứ không có đồn ải hay đơn vị biên phòng canh gác kiểm soát. Từ năm 1955 về sau, sự giao thông giữa hai nước bị ngăn chận theo luật lệ của hai quốc gia, đã làm rõ nét đường ranh hành chánh, như ta đã thấy vẽ trên bản đồ.

            Theo thứ tự , từ vùng tam biên tới cuối lãnh thổ của Vùng II chiến thuật, ranh giới của Quận Ðức Lập (Quảng Ðức) và Bù Gia Mập (Phước Long) . Vùng này núi non hiểm trở, nên ít có buôn Thượng hay đồn bót của chánh quyền, mà chỉ có môt con đường duy nhất là QL19, từ Pleiku sang tỉnh Stung-Treng của Cao Mên. Qua khỏi đường ranh biên giới về phía Kampuchia chừng 10 km, mới có một Buôn Apia của người Lơ. Giữa ranh giới hai tỉnh Phước Long và Quảng Ðức, QL14 có một đường rẽ từ Miên tới Buôn Mê Thuột (Darlac).

            Trong địa phận của Vùng III Chiến thuật, từ Phước Long tới Tây Ninh, có nhiều đường thông thương qua biên giới Miên Việt. Tại Bình Long có QL13 là trục giao thông chính giữa hai nước thời Pháp thuộc. Ðường này sau khi qua Sóc Penang trong quận Lộc Ninh (Bình Long) của VN, sẽ gặp quận Snoul, tỉnh Kratié (Miên) rồi chạy thẳng tới Stung-Treng và qua Vạn Tượng (Ai Lao) . Ðây là con đường trong cuộc chiến Ðông Dương 2, Bắc Việt xử dụng để chuyển quân tấn công Miền Nam. Về phía bắc tỉnh Tây Ninh, trước đó có QL22, nối liền thị xã qua các xã Tân Long, Tân Hội, Tân Hưng (Phú Khương), tới trạm cuối cùng ở biên giới tại Ấp Tầm Phô (Samach) , chạy sang tỉnh Kompongcham (Miên). Tây Ninh còn có một tỉnh lộ, từ tỉnh lỵ tới Ấp Tân Sinh Bến Sõi (khoảng 15km), và Xã Phưóc Tân (Phước Ninh) sát biên giới. Vì Bến Sõi chỉ cách Xã Bosmon, quận Romdou (Komphong Chak) của Miên, một con rạch nhỏ, nên hai phía thường qua lại bằng đò chống sào. Nhưng quan trọng nhất trong vùng này, từ trước tới nay vẫn là Trạm Biên Giới “ Gò Dầu Hạ “ cũng ở trong tỉnh Tây Ninh. Từ xã Phước Tân (Phước Ninh) theo đường ranh, sẽ gặp Quốc Lộ số 1, từ Ải Nam Quan (Lạng Sơn), qua Hà Nội, Huế, Sài Gòn.. tới đoạn chót ở biên giới là Gò Dầu Hạ ( Tây Ninh VN). Sau đó QL1 tiếp tục từ xã Bravet (quận Svay Teap ố tỉnh Svay Riêng) của Miên, tới Nam Vang và Poipet, biên giới Miên-Thái về hướng tây bắc. Tại Gò Dầu Hạ, còn có nhiều đường mòn tới Bến Cầu, Bầu Gõ.. vượt qua biên giới Kampuchia. Từ Tây Ninh, chạy suốt biên giới giáp ranh với tỉnh Svay Rieng (Miên), tới tỉnh Hậu Nghĩa (VN), còn có vô số đường thông thương giữa hai nước tại Chợ Rạch Tràm , xã Phước Chỉ (Tây Ninh) và Ấp Tà Nu, xã Mỹ Quí (Hậu Nghĩa).

            Vùng IV Chiến thuật, bắt đầu tỉnh Kiến Tường, tại xã Bình Hiệp có đường thông sang Mesothngok tới Kompong Ro và một đường khác từ Tà Lóc qua Long Khốt VN. Sông Tiền Giang từ Miên vào biên giới VN tại xã Thường Phước, quận Hồng Ngự, tỉnh Kiến Phong . Phía bên kia là Ấp Kaskos, quận Peam Chor, tỉnh Preveng của Cam Bot. Phía tả ngạn sông Tiền, ngay biên giới là quận Tân Châu, tỉnh Châu Ðốc. Giống như Gò Dầu Hạ, Thường Phước cũng có một chợ trời rất lớn, có từ thời Pháp thuộc tới nay vẫn còn tồn tại. Ở Tân An, Tân Châu VN, còn có đường sang Kos Thom, tỉnh Kandal. Ðây là con đường chính thời Pháp thuộc, mà người Việt dùng để sang lập nghiệp tại Kampuchia lên tới nửa triệu người. Tiền Giang cũng là thủy lộ để các tàu từ VN tới NamVang, dù Miên đã có hải cảng Kompong Som (Sihanoukville) ở vịnh Thái Lan. Còn sông Hậu vào VN tại xã Khánh Bình, quận An Phú-Châu Ðốc, đối diện với Benghi, Kosthom, tỉnh Kandal của Miên. Ðây là con đường tới thủ đo Nam Vang gần nhất. Ranh giới hai nước ở đây là con sông đào nhỏ có từ thời Pháp thuộc, dùng để phân chia lãnh thổ hành chánh.

            Suốt biên giới dài giữa hai nước, chỉ có vùng An Phú ố Tịnh Biên, rất phức tạp,vì nhiều người Việt có ruộng đất ở bên kia, do đó lính Miên thường lợi dụng vượt biên giới sang VN giết người cướp của, thời nào cũng có. Từ tỉnh lỵ Châu Ðốc, có QL2 đi Tà Keo của Miên, qua trạm biên giới Tịnh Biên, trên bờ kinh Vĩnh Tế, do Nguyễn Văn Thoại đào từ thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn. Con kinh này ăn thông ra biển trên vịnh Thái Lan . Cuối cùng là QL17, từ Rạch Giá đến Hà Tiên (99 km), từ đó tới một Sóc Miên ở biên giới Prussey Srok, tới tỉnh Kampot đi Nam Vang.

2- Xung Ðột Việt-Miên , từ hận thù tới biên giới :

            Trên đường khai hoang, VN đã nhiều lần xung đột với người Khmer, vô tình tạo thành mối thù truyền kiếp giữa hai dân tộc khó lòng tháo gở được, dù thời gian đã phôi pha phần nào. Ngay đầu thế kỷ XVII, người Việt đã vào khai khẩn đất hoang tại Bà Rịa, Biên Hòa. Từ thời Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần vào năm 1658, tới Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát vào hậu bán thế kỷ XVIII qua cuộc nam tiến, vùng Thủy Chân Lạp coi như hoàn toàn trở thành lảnh thổ của Ðại Việt. Năm 1813 thời vua Minh Mệnh, Tổng trấn Gia Ðịnh là Lê Văn Duyệt, đã đem 10 vạn quân tới Nam Vang, xây thành quách bảo hộ Chân Lạp, kéo dài tới năm 1840 Thiệu Trị nguyên niên, mới chấm dứt.

             Năm 1970 vì muốn cứu Việt kiều sinh sống tại Kampuchia, bị người Miên “ cáp duồng “ thảm tuyệt, sau khi Sihanouk bị lật đổ. Lần này QLVNCH lại vào đất Miên và giải cứu đem gần 100.000 đồng bào về nước. Cuối năm 1978 ba đảng cọng sản Tàu, Việt và Miên xung đột, đã gây cuộc chiến Ðông Dương lần III thật đẳm máu. VC đã xua đại quân tiêu diệt Polpot và Khmer đỏ. Ðồng thời chiếm đóng nước này tới năm 1989 mới rút về nước.

            Tất cả những oan khiên trên, làm cho người Việt sinh sống tại các làng mạc tiếp giáp với biên giới Miên từ Tây Ninh xuống tới Hà Tiên, cũng như tại các hải đảo nằm trong vịnh Rạch Giá, hầu như là nạn nhân của những cuộc tàn sát đẳm máu của Kampuchia, khi có dịp như thơi gian Khmer đỏ cầm quyền, từ ngày 30-4-1975 tới cuối năm 1978. Nhưng thê thảm nhất vẫn là số phận của người Việt tha phương tới làm ăn trên đất Chùa Tháp. Ngày 2-6-1956 chính phủ Cao Mên cho phép VNCH đặt Tòa Ðại Diện tại Nam Vang, do Ngô Trọng Hiếu đại diện. Ngược Lại Kampuchia cũng có Tòa Ðại Diện ở Sài Gòn, do Sum Hiêng điều khiển. Trong lúc đó Sihanouk ngoài mặt tuyên bố theo chính sách Trung Lập, nhưng bên trong lại thiên vị và theo phe Cọng Sản Bắc Việt. Năm 1959, vì dính líu tới vụ chống Sihanouk, nên Hiếu được Phạm Trọng Nhân thay thế nhưng cũng kể từ đó chính phủ Miên thù hằn VNCH ra mặt, nên gần như công khai ủng hộ Hà Nội khi cho Bắc Việt mở Phòng thương mại tại Nam Vang vào tháng 7-1962. Rồi ngày 17-8-1963 Sihanouk đoạn giao với VNCH, chỉ cho một nhân viên thuộc Bộ Ngoại Giao Miền Nam, làm việc bên cạnh Tòa Ðại Sứ Nhật Bản, lo về phần vụ liên hệ tới Việt kiều. Sau khi Sihanouk bị hạ bệ, ngày 10-6-1970 Việt ốMên lại tái lập bang giao trên cấp bậc đại sứ, cho tới khi VNCH bị sụp đổ vào tháng 5-1975.

            Sau ngày VC và Miên Cộng chiến thắng, lập tức bùng nổ sự thù hận và xung đột mà hai đảng đã cố che giấu dưới lớp son phấn tình đồng chí anh em. đoàn kết. Tóm lại, tất cả nợ nần lời vốn, chuyện xưa tích cũ từ 300 năm về trước, đều được Polpot và Khmer đỏ đem hết trút vào người dân Miền Nam vô tội, mà khởi đầu là cuộc tấn công dành các đảo Phú Quốc, Thổ Châu.. trong Vịnh Rạch Giá của VN.

             Ðây là lần đầu tiên Cam Bốt gây hấn với người Việt bằng chiến tranh, để xác định chủ quyền lãnh thổ. Hành động chẳng hề xãy ra suốt thời Pháp thuộc và ngay cả thời VNCH, dù năm 1960 Sihanouk có làm lớn chuyện để đòi Phú Quốc nhưng cũng chỉ trên phương diện ngoại giao mà thôi . Tóm lại những ác cảm mà người Miên đã nuôi dưỡng cha truyền con nối với người Việt, phần lớn được tạo ra bởi Sihanouk suốt thời gian trị vì, luôn tác động người dân nước mình chống lại VNCH , qua những bịa đặt không hề có hay quá đáng. Sau này Polpot cũng vậy, để chống VN đã phổ biến “ Hắc Thư “ năm 1978, cực lực tố cáo VN đủ thứ, mục đích cũng chỉ để hâm nóng hận thù truyền kiếp của hai dân tộc.

             Tháng 4-1977 Polpot ban hành Nghị quyết 870, ra lệnh bắt tất cả Việt Kiều hay bất cứ ai liên hệ tới người Việt, tại Kampuchia. Sau đó, Khmer bắt đầu tấn công các tỉnh biên giới VN từ Tây Ninh tới Hà Tiên và công khai tuyên bố ‘ Lần này Khmer đỏ sẽ đánh chiếm lại Kampuchia Krom (Miền Nam VN) cũng như Prey Nokor ( Sài Gòn)., với lý luận ‘ Ta đã dựng được Angkor, đánh thắng Mỹ, thì cũng sẽ tiêu diệt được VN ‘.Ðầu năm 1978, Polpot bắt đầu thanh trừng nội bộ,ợ tàn sát hơn 60.000 người Chàm sống tại Kompong Cham, vì họ theo Hồi giáo và ở sát biên giới, nên phải giết hết để không còn ai làm nội tuyến cho VC.

            Ðêm 24-12-1978, Chu Huy Mẫn, chính ủy bộ đội VC khai hỏa tại Ban Mê Thuộc, tổng tấn công Khmer đỏ. Ngày 6-1-1979 cọng sản VN vào Nam Vang, Polpot tháo chạy về biên giới Miên-Thái, xóa tên Khmer đỏ. Chiều ngày 10-10-2005, Thủ tướng VC Phan Văn Khải và Thủ tướng Miên Cộng Hun Sen, ký Hiệp Ước Bổ Sung về biên giới, theo tinh thần văn bản mà hai nước đã ký vào năm 1985, thời gian VC đang đô hộ Kampuchia. Tuy nhiên nội dung của văn kiện hiệp ước, không ai biết gì vì chẳng bao giờ được phổ biến và quan trọng nhất, cũng không nói tới vụ tranh chấp đảo Phú Quốc, mà theo lời đồn đải VC cũng tính trả lại cho Kampuchia, như vụ đổi Cam Ranh cho Trung Cộng để lấy Hoàng Sa.

            Theo đài BBC Luân Ðôn thông tin ngày 17-10-2005, cựu hoàng xứ chùa Tháp là Sihanouk, tuyên bố sẽ ở luôn tại Bắc Kinh, nhờ Tàu giúp tranh đấu cho tới chết, để bắt VC trả lại cho Miên, lãnh thổ Kampuchia Krom, trong đó có Sài Gòn. Ngoài ra cũng không chấp nhận biên giới hiện tại Brevié năm 1939, trong đó có đảo Phú Quốc luôn là đề tài tranh chấp của Miên-Việt, dù thực tế quần đảo này thuộc về VN rất lâu đời, ngay khi Vua Gia Long Nguyễn Ánh còn tẩu quốc trước thế kỷ XIX.

3 - Quần Ðảo Phú Quốc :

          Kiên Giang nằm về phía tây nam VN, có diện tích 6.269 km2 và dân số thống kê năm 2000 là 1.494.433 người, tỉnh lỵ là thành phố Rạch Giá. Toàn tỉnh có đất liền chiếm 5629 km2, phần diện tích còn lại là hải đảo. Bờ biển Kiên Giang dài 200 cây số với phần lãnh hải và thềm lục địa tới 63.290km2. Hà Tiên là phần đất cuối cùng của VN, có biên giới chung với Kampuchia 54 cây số. Tỉnh có 105 đảo lớn nhỏ, trong số này có đảo Phú Quốc lớn nhất VN.

            Phú Quốc hiện là một huyện có thủ phủ là thị trấn Dương Ðông, cách thành phố Rạch Giá 120 km và Hà Tiên 45 km. Hình dáng của đảo thoai thoải, từ bắc xuống nam có 99 ngọn núi lớn nhỏ. Ngoài ra còn có đồng bằng và nhiều khu rừng tự nhiên, chiếm diện tích hơn 37.000 ha. có nhiều gổ tốt cũng như các loại chim muông quí hiếm. Với diện tích 573 km2, dân số 45.000 người, chiều dài 50 km, nơi rộng nhất ở bắc đảo 25 km, xưa nay được người đời khen tặng là ‘ Ðảo Ngọc’, vì là một vùng đất hữu tình, phong cảnh đẹp, lại có nhiều bãi tắm trong sạch quanh đảo như Bãi Trường, Kem, Ghềnh Dầu, Rạch Tràm, Vẹm.. Ðây cũng là một địa phương nổi tiếng về công nghệ chế biến nước mắm cá biển không thua gì Phan Thiết, nhờ hương vị ngọt thơm, đặc biệt là mắm Cá Cơm, có độ đặm đặc cao trên 40%, hằng năm sản xuất hơn 6 triệu lít. Ngư nghiệp ở đây phát triển rất mạnh, với hơn 2000 tàu thuyền đủ loại, hằng năm đánh bắt hơn 35.000 tấn cá và đủ loại các hải sản khác.

             Phú Quốc cũng có phi trường từ Sài Gòn ra đảo mất 40 phút, trong khi đi tàu phải tới 8 giờ, mới vào thị xã Hà Tiên. Ngoài ra còn có hai ngư cảng An Thới và Hòn Thơm. Ở đây có đền thờ của Nghĩa Sĩ chống Pháp Nguyễn Trung Trực, người anh hùng đã đốt tàu Tây trên sồng Vàm Cỏ. Ngoài ra khắp đảo còn rất nhiều di tích của Vua Gia Long, lúc tẩu quốc vào những năm cuối thế kỷ XVIII. Ở đây còn nổi tiếng về hồ tiêu vì nồng thơm và một loại chó địa phương, có xoáy trên lưng, rất trung thành với chủ.

            Ðứng từ Nũi Nai của Huyện Hà Tiên tới Mũi Ðá Chông (Phú Quốc), đường thẳng này sẽ đi qua một quần đảo nổi tiếng hung hiểm từ cả trăm năm nay. Ðó là quần đảo Hải tặc, gồm có các Hòn Kiến Vàng, Keo Ngựa, Ðốc, Trực Mâu, Long Ðước.. nằm trong Vịnh Hà Tiên. Thời Pháp, nơi này có tên là Tiên Hải, hiện thuộc Huyện Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Ðây cũng là nơi thuyền tàu đủ các nước như Thái, NamDương, Mã Lai, Phi, Kampuchia, VN kể cả Tàu.. gặp gở trao đổi hàng hóa, mua bán mọi thứ. Thời VNCH, vùng vịnh Rạch Giá-Hà Tiên thuộc trách nhiệm của Bộ Tư Lệnh Vùng IV Duyên Hải, mà Tư lệnh cuối cùng là Ðại tá HQ. Nguyễn Văn Thiện. Bộ Tư lệnh đóng tại Phú Quốc với các đơn vị Hải quân trực thuộc như Duyên Ðoàn 45 coi Bắc Ðảo Phú Quốc và Hà Tiên. Duyên Ðoàn 44 đóng tại Kiên An-Hòn Tre, bao vùng Vịnh Rạch Giá , Rừng U Minh, sông Cái lớn, Cái bé. Duyên Ðoàn 43 ở Sông Ông Ðốc, Mũi Cà Mâu và Duyên Ðoàn 42 ở Hòn Nam Du. Riêng Hải Ðội IV có nhiều chiến hạm biệt phái, bao vùng tuần tiểu, bảo vệ Hải phận VN từ Mũi Cà Mâu, đến tận biên giới Miên Việt, trong Vịnh Rạch Gíá-Hà Tiên. Nhờ vậy tình hình rất yên tỉnh, ít khi xãy ra nạn hải tặc cướp bóc dân lành.

            Sau tháng 5-1975, QLVNCH không còn nửa, nên trong vùng quanh quần đảo Hải Tặc , hầu như là sào huyệt của bọn cướp biển. Chúng thường giả dạng quân Kampuchia, vượt ranh giới lãnh hải của hai nước, cướp bốc ghe tàu đánh cá của VN, rồi kéo về đất Miên đòi tiền chuộc mạng, chuộc tàu thuyền. Ðã có nhiều cuộc đụng độ giữa băng nhóm Hải tặc quốc tế và VC nhưng không làm sao dẹp được. Hiện nay vùng phân ranh lãnh hải giữa VN và Cam Bốt , trong Vịnh Thái Lan chưa giải quyết được. Theo luật biển quốc tế được qui định, thì tính từ mép nước của đảo hay đất liền ra xa 12 hải lý, gọi là Vùng kinh tế. Cũng tư mép nước ra 200 hải lý là hải phận quốc gia. Do tính chất đặc biệt của quần đảo Phú Quốc, tại đường ranh Brevié năm 1939 trên bản đồ, thì lãnh hải của hai nước Miên-Việt, có chung một Vùng Biển Lịch Sử, mà người của hai nước đều có quyền tới khai thác, dánh cá.. Lợi dụng nhược điểm này, bọn cướp biển từ các đảo chủ quyền của Miên, vượt tuyến phân định vùng nước chung trên, sang hải phận VN cướp bốc, tống tiền và giết hại ngư dân nước ta. Trong các vụ cướp này, ngoài hải tặc Miên, còn có cướp biển quốc tế đủ quốc tịch, trong đó có cả giặc Tàu. Từ tháng 10-1998, tỉnh KiênGiang ngoài các Ðội Tựỳ Vệ biển, còn có thêm lực lượng cảnh sát tuần tra bảo vệ lãnh hải. Nhưng làm gì được, nếu tình trạng lãnh hải giữa hai nước, chưa có một công ước minh định.

            Ôi Nam Quốc Sơn Hà, nay đâu còn thuộc quyền Nam Ðế Cư. Biết đến bao giờ Người nước Việt, mới tự làm chủ mình để quyết định vận mệnh quốc gia dân tộc, nhất là trong giai đoạn “ giặc Tàu công khai xâm lược nước ta “ , trước sự bất lực cúi đầu của các chóp bu cầm quyền !


Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 11-2010
MƯỜNG GIANG

Wednesday, November 10, 2010

VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU MỚI .


VIỆT NAM : MỘT BE BỜ CỦA HOA KỲ, TRONG CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU MỚI .
                                                    MƯỜNG GIANG 
            Trong bài diễn văn đọc tại trường Ðại học Georgetown ngày 18-1-2006, Ngoại trưởng Condi Rice đã tuyên bố là Hoa Kỳ đang thay đổi chiến lược toàn cầu, trong đó dồn hết tài nguyên lực lượng và căn cứ quân sự từ Âu Châu, để chuyển về các điểm nóng Phi Châu, Nam Mỹ, Trung Ðông và quan trọng nhất là vùng Ðông Nam Á. Dịp này Mỹ cũng không cần dấu diếm mà công khai gọi Trung Cộng là đe dọa của mình trong thế kỷ XXI, sau khi Liên Xô sụp đổ .Ðể duy trì thế đứng siêu cường số một trong trật tự thế giới mới, lần này người Mỹ không muốn đơn thân độc mả, mà kêu gọi sự hợp tác của các nước liên quan trong vùng, những nước đang là nạn nhân của đế quốc Tàu đỏ trong dã tâm thống trị và cưởng đoạt Biển Ðông.
            Việt Nam ngày nay tuy được xếp vào một nước lớn vì có dân số đông đảo, quân đội đầy kinh nghiệm chiến đâu bao đời. Tuy nhiên theo các nhà quân sử, thì VN đã mất hết thế đứng trong trật tự thê giới mới ngày nay, vì được lãnh đạo bởi Ðảng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc tế (ÐCSÐTQT), mang bản chất làm nô lệ tay sai cho ngoại bang và các thế lực tư bản, miễn sao có đầy túi đô la và giữ yên chiếc ngai vàng. Nhưng đây cũng là tử lộ của VC, vì theo Mỹ “ để được bợ lưng, thì phải chống lại Trung Cộng hoặc ngược lại “ đường nào cũng sẽ biến đất nước ta thành một bãi chiến trường đẳm máu khi có chiến tranh thực sự., trong cái gọi là “ sứ mạng tiền đồn chống Cộng ngày trước, hay đối tác quân sự giữa các siêu cường ngày nay “. 
            Thật sự VC ngày nay đâu có khả năng về quân sự, nhất là lực lượng Hải Quân để mà bảo vệ lãnh thổ, lảnh hải và mạng sống của đồng bào mình. Trong lúc các nưóc láng giềng từ Trung Cộng, Nhật Bổn, Nam Bắc Hàn, Ðài Loan, Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương,Thái Lan.. không ngừng canh tân quân đội để bảo vệ Tổ Quốc họ. Trái lại suốt 35 năm qua, VC chỉ tăng cường lực lượng công an, kỷ thuật tra tấn, chụp mũ.. để khủng bố đồng bào, tham nhũng tài sản công khố làm lũng đoạn kinh tế quốc gia và trên hết chỉ biết quì lạy đầu hàng kẻ mạnh, để giữ đảng, khiến cho quốc thể bị chà đạp xấu nhục, quân đội quốc phòng, chính trị, phong hóa cả nước càng lúc càng lùi dần về thời đồ đá cả mấy trăm năm trước. 
            Tuy cựu bộ trưởng quốc phòng thời TT W.Bush là Rumsfeld, chỉ nói với VC là Mỹ muốn quan hệ hai nước tiến triển theo “ MỘT CHIỀU HUỚNG “ có lợi cả hai, đồng thời được dễ dàng thoải mái. Nhưng VN ngày nay dưới chế độ CS, tuy mang tiếng là quốc gia độc lập nhưng thực chất vẫn là chư hậu của Trung Cộng không hơn không kém, giá trị chỉ ngang tầm với một tỉnh của Tàu đỏ. Vậy bằng cách nào, đảng hành xử để giữ sự cân bằng khi cùng lúc đang đi giây giữa hai thế lực ?. Nói chung, hai nước chỉ mới đạt một số thỏa thuận không quan trọng về quân sự, tuy trong thâm tâm VC muốn ký kết thêm với Hoa Kỳ nhiều lãnh vực quan trọng hơn, bất chấp sự thù nghịch khiêu khích đối với Trung Cộng, dẫn tới một cuộc chiến như trong quá khứ, mà không thể nào tranh được. 
            Trong bài báo của nhóm nghiên cứu đăng trên tạp chí The Economist, cho biết Trung Cộng luôn chống lại việc bốn chư hầu VC, Lào Cộng, Miên Cộng và Miến Ðiện, ngả quá sâu về phía Mỹ. Nói chung mối quan tâm của Tàu đỏ với VN,càng ngày càng tập trung vào quân sự chứ không phải kinh tế. Nhờ nó mà Trung Cộng đã nghiểm nhiên trở thành chủ nhân ông trong vịnh Bắc Việt, quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, miền Thượng Du Bắc Việt, Cao Nguyên Trung Phần và gần hết thành phố, tịnh lỵ, thị trấn của VN qua bình phong “ hợp tác thương mại, phát triển kinh tế giữa hai nước theo lộ trình 16 chữ vàng “.Tại Miến Ðiện, người Tàu được khai thác trọn khu rừng gổ tếch ở phía Bắc, nguồn dự trử khí đốt ở biển Andaman và vịnh Bengal. Một cuốn sách nhan đề ‘ Showdown : Why China Wants War with the United States ‘ của Jed Babbin và Edward phát hành ngày 22-5-2006, có đề cập tới việc Mỹ cần phải cho VN gia nhập Liên Minh Quân Sự để chống lại sự bánh trướng xâm lăng của Trung Cộng. Cho nên khi Rumsfeld nói là VN phải tự bảo vệ vùng biển của mình,không ngoài mục đích trên. 
            Và chiến lược coi VN như một be bờ của Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, đã được Mỹ công khai hoá qua những lời tuyên bố của bà Clinton, ngoại trưởng thời TT Obama từ tháng 1-2009 tới nay, theo đúng chính sách ngoại giao do hai đảng Dân Chủ & Cộng Hoà vạch ra. Theo đó Hoa Kỳ sẽ trở lại Ðông Nam Á và Biển Ðông, để cùng hợp tác với các quốc gia trong vùng, chống lại chủ nghĩa đế quốc của Tàu đó trong dã tâm cưởng chiếm toàn vẹn biển Thái Bình. 
            Ngày nay qua núi sử liệu trong và ngoài nước đã bật mí, ta mới biết được VC ngoài miệng lúc nào cũng nói chống Mỹ, Tây Phương, Nhật, Tư Bản nhưng trong tận cùng tim óc lại rất thèm thuồng sự bang giao với họ, nhất là kẻ thù không đội trời chung Hoa Kỳ. Bởi vậy, khi Sài Gòn bị cưởng chiếm trưa 30-4-1975, thì chỉ hai tháng sau, VC đã trân trọng mời hai ngân hàng lớn của Mỹ trở lại VN, để bàn thảo phát triển kinh tế và thương mại. Riêng với dân chúng Hoa Kỳ, từ sau cuộc chiến Ðông Dường lần 2 kết thúc, càng mệt mõi thất vọng vì sự tháo chạy nhục nhả của quân đội Mỹ tại VN, cộng thêm vụ Watergate. Vì vậy họ đã bầu Jimmy Carter, xuất thân đại điền chủ trồng đậu phụng ở miền Nam, thuộc đảng Dân Chủ, làm tổng thống. Là một người thâm trầm và nham hiểm, nên Carter đã sử dụng chiến thuật “ cây gay và củ cà rốt “ cố hữu đẻ hy vọng xóa bỏ hội chứng VN trong lòng người Mỹ. Ðó là thiết lập ngoại giao cũng như bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. 
            Nhưng thiện chí đầy nhân bản và tốt đẹp trên của TT Carter, đã làm cho bọn chóp bu tại Bắc Bộ Phủ hiểu lầm và tăng thêm lòng kiêu căng phách lối trong những bộ óc đặc sệt chũ nghĩa, là Mỹ đã gục ngã trước chiến thắng thần thánh siêu nhân của các đỉnh cao, cùng với sự ưu việt của chũ nghĩa xã hội, qua ba dòng thác cách mạng, đã đánh gục ba đại cường Pháp-Nhật-Mỹ, khiến cho tư bản giẫy chết. Bởi vậy Hà Nội cần gì liên hệ với tên đầu sỏ tư bản là Mỹ, đang cầu cạnh tới làm quen. 
             Chính sự chủ quan thiển cận đó, đã làm cho Mỹ quay mặt với VN và quyết tâm kết thân với TC, đẩy Hà Nội vào con đường mạt rệp, phải chạy theo Liên Xô, gây nên cuộc chiến long trời lở đất, giữa Hoa-Việt tại biên giới hai nước vào tháng 2-1979. Kết quả 5 tỉnh thượng du Bắc Việt bị giặc Tàu tàn phá bằng bom đạn, thành những đống gạch vụn, nhiều đồng bào và bộ đội thương vong thảm thiết. Kinh hoàng nhất là cả nước từ Nam ra Bắc, đắm chìm trong ngục tù thù hận, địa ngục đói nghèo, hơn 10 năm dài vì bị cả loài người quay lưng nguyền rũa, khi đối mặt với hàng triệu thuyền nhân VN, liều chết bỏ quê hương ra biển tìm tự do trong nổi chết chực chờ.
            Thế là trận mưa đô la Mỹ sẽ vĩnh viển chẳng bao giờ đổ xuống cung đình Hà Nội như lòng ham muốn vô đáy của các chóp bu luôn bệnh hoạn tưởng tượng. Nhưng vốn là những kẻ lì lợm tráo trở, nên vừa thua me đã vội bày bài cào để gở, bằng cách dùng những bộ xương khô của lính Mỹ mất tích trong cuộc chiến vừa qua, để làm mồi câu cá mập. Ðồng thời còn hứa hẹn sẽ trao cho Hoa Kỳ tất cả những tin tức và dử kiện về xác Mỹ càng sớm càng tốt, nếu có tiền bồi thường chiến tranh. 
             Sau này qua các tài liệu mật được công bố, cho biết lúc đó Carter rất chú trọng tới VN, vì các tiềm lực tài nguyên thiên nhiên, trong đó có dầu hỏa đước phát hiện ngoài thềm lục địa VNCH, từ trước tháng 4-1975. Riêng đối với bọn tài phiệt tư bản, phần lớn là chủ ngân hàng, hảng xe, các cơ sở thương mại, hảng dầu của Hoa Kỳ.. thì mờ mắt trước lời rao hàng của VC về lao động rẽ, tài nguyên nhiều.. nên gây áp lực Chính Phủ bãi bỏ lệnh giao thương với VC, vì sợ các món hàng “ buôn người “ hiếm quí trên lọt vào tay tư bản Nhật và Âu Châu.Do trên, Carter vào tháng 5-1977, đã chấp thuận giúp VC nhiều vấn đề, từ ngân khoản 5 triệu mỹ kim nhân đạo, cho tới sự đồng tình với Liên Hiệp Quốc, qua chương trình cho vay tiền phát triển VN. 
            Vào tháng 1-1985 gần đúng 10 năm người Mỹ tháo chạy nhục nhã tại Nam Vang và Sài Gòn trong tháng 4-1975, Hoa Kỳ được các nước Ðông Nam Á, mời gọi trở lại vùng này, nói là nhờ đóng vai trò xây dựng nhưng mặt thật giúp họ, ngăn chận sự bành trướng của Nga lẩn Tàu. Ðây cũng là thời điểm, đánh dấu nổ lực mới của Việt Cộng, trong sự mời gọi Hoa Kỳ trở lại VN, trước tiên bằng các phái đoàn tìm kiếm xương khô lính Mỹ mất tích. Rồi giấc mộng vàng, chính thức trở thành sự thật vào tháng 4-1991, qua TT.G.Bush ‘ Bải bỏ lệnh cấm vận VN ‘, kế tiếp TT.Bill Clinton ‘ Bình Thường Quan Hệ Ngoại Giao’ giữa hai nước vào năm 1995 và ký ‘ Hiệp ước Thương Mại Song Phuơng Việt-Mỹ’’năm 2001. Cuối cùng mới có cuộc thăm viếng Hoa Kỳ của Thủ Tướng VC Phan Văn Khải, từ ngày 19-6-2005 tới 25-6-2005, nói là tới nhờ Mỹ giúp vào WTO, nhưng mặt thật sang để cam kết làm hết những điều khoản để trả ơn Hoa Kỳ, về những ân huệ đã ban phát.

+ HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT-MỸ :CON DAO HAI LƯỞI XIẾT HỌNG VC : 
            Hoa Kỳ là một thị trường lớn, dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn có sức tiêu thụ và thu hút hơn 1/4 số lượng hàng hóa xuất cảng của thế giới. Bởi vậy Mỹ là điểm thu hút, chẳng những của các nước Tây Phương, Nhật, Nam Hàn, Ấn Ðộ, Ðài Loan.. mà với các nước cọng sản thù nghịch, tử Nga tới Trung Cộng và VC.. tuy miệng lúc nào cũng bài bác nhưng luôn luôn tìm đủ trăm phương ngàn kế, để được kết thân giao hảo. 
            VN xã nghĩa bắt đầu mở cửa đổi mới, đón tư bản và Tàu trắng đỏ vào nước cứu đảng từ năm 1988. Chính Bill Clinton đảng dân chủ, trong hai nhiệm kỳ tổng thống Mỹ (1992-2000), đã liên tục bãi bỏ lệnh cấm vận (1993), bình thường hóa bang giao hai nước (1995). Tháng 11-1997, Mỹ và VC đã ký kết sơ khởi, một hiệp ước liên quan tới hoạt động của tập đoàn đầu tư hải ngoại, viết tắt là OPIC (Oversear Private Investment Corporation ). 
             Ðây là bước khởi đầu rất quan trọng, như các điều kiện phải có, để tiến tới việc ký hiệp định thương mại, nhằm bình thường hóa toàn bộ các quan hệ buôn bán giữa hai nước. Ðối với các doanh nhân Mỹ làm ăn tại nước ngoài, OPIC có giá trị như một loại bảo hiểm rũi ro cũng như là lời cam kết khi thực hiện các hợp đồng. Riêng Clinton sau khi thoát được sự luận tội của Tối Cao Pháp Viện Mỹ, cũng là lúc sắp mãn nhiệm kỳ vào ngày 20-1-2001, đã cùng vợ con sang du hí tại VN. 
            Hành động hái nho trái mùa của một tổng thống Mỹ mang nhiều tai tiếng nhất, được báo chí Hoa Kỳ thời đó đề cập bằng những danh từ trào phúng mai mĩa, chẳng hạn như ‘ A lame-duck ‘ qua nghĩa đen ‘ Literal meaning, sense ố vịt què ‘, để hiểu theo nghĩa bóng ‘ Figurative meaning, sense ‘.Việc làm trên thật sự chẳng có gì để được ca tụng là mang tính cách lịch sử (Historic) nhưng như tạp chí Newsweek bình luận ngày 27-11-2000 ‘sau này khi về hưu, Clinton chắc tự hào lắm, vì là tổng thống Mỹ đầu tiên tới thăm kẻ thù VC ‘. 
            Năm 2002 khởi đầu việc thực hiện Hiệp Ước Thương Mại Việt-Mỹ, nhưng nền kinh tế xã nghĩa đã không đạt được sự tăng trưởng theo chỉ tiêu đề ra từ 7-7,3%. Nói như Bộ trưởng Kế Hoạch Ðầu Tư VC Trần Xuân Giá , thì đây là điềm xấu báo trước cho cả năm. Ðáng báo động là kim ngạch xuất khẩu cũng giảm mạnh, tới 12% so với năm 2001. Tình trạng suy thoái kinh tế này cũng đâu có khác gì năm 1991 mà VC phải hứng chịu, qua tác động nặng nề vì sự sụp đổ của Liên Xô. 
             Nói chung tất cả các mặt hàng xuất cang của VN, từ nông sản, tôm cá cho tới hàng may mặc.. đều bị các thị trường Mỹ, Nhật, Tây Âu.. lưu ý chẳng những vì phẩm lượng yếu kém, mà quan trọng nhất là giá cả buôn bán bừa bãi, chỉ với mục đích cạnh tranh bất chính, chỉ muốn bán được thật nhiều hàng mà thôi. Ngoài ra không cần phải để ý tới quốc thể và uy tín, là hai điều kiện tiên quyết trong việc giao dịch buôn bàn lâu dài. Ðây cũng là hậu quả tất yếu của một nền kinh tế nửa nạc nửa mở, được gọi là tư bản định hướng theo xã hội chủ nghĩa. Thực trạng kinh tế trong nước như vậy, mà đảng chẳng lo cải tổ, lại cứ nhắm mắt tiến bừa trên lộ trình HỘI NHẬP vào KHU VỰC TỰ DO MẬU DỊCH ASEAN (AFTA), thi hành HIỆP ÐINH THƯƠNG MẠI VIỆT-MỸ, đồng thời chuẩn bị các vòng ÐÀM PHÁN gia nhập TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI. 
            Ngày 1-1-2002, hai nước VN và Hoa Kỳ chính thức thi hành Hiệp Ðịnh Thương Mại Song Phương và sau hai tháng, cho thấy về phía VN, hàng hóa xuất cảng sang Mỹ chỉ có 0,05% giá trị trong tổng số nhập cảng. Giữa lúc đó thì hàng hàng lớp tư bản Mỹ, mà trong số này có rất nhiều doanh nhân Việt Kiều, kéo vào nước ta làm ăn buôn bán đầu tiên là Hiệp Hội May Mặc và Giày Da Hoa Kỳ. Cuối tháng 1-2002, Phụ Tá Bộ Trưởng Thương Mại Mỹ là William Lash thân hành sang Hà Nội, bàn thảo về những luật lệ điều khoản mà hai phía cùng ký, đồng thời xem xét việc giúp VN các kỹ thuật. Nhờ Hoa Kỳ bợ lưng, nên Xã Nghĩa đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư của Châu Á cũng như Tây Phương, nhảy vào bỏ vốn làm ăn, giúp cho nghành Dệt May của nước ta phát triển manh. 
             Tóm lại nếu được thi hành một cách nghiêm chỉnh, Hiệp Ðịnh Thương Mại là thời cơ để VN cải tổ lại nên kinh tế còn yếu kém vì nạn tham nhũng, cũng như sửa đổi lại nền hành chánh quan liêu lỗi thời và trên hết là biết xử dụng CÔNG PHÁP QUỐC TẾ, chứ không phải là xài LUẬT RỪNG, trong lúc đã chấp nhận làm ăn chung, tuyệt đối phải CÔNG BẰNG SÒNG PHẲNG theo luật định. Tuy nhiên vẫn còn quá nhiều tuyên truyền bôi bác, rằng ký Hiệp Ðịnh Thương Mại, chắc chắn trong tương lai, VN sẽ bị lệ thuộc vào nền kinh tế Mỹ, dù thực sự đây mới chính là bước đầu rất quan trọng, để VN được thu nhận vào Tổ Chức Thương Mai Quốc Tế (WTO) sau này. 
            Hiệp Ðịnh Thương Mại Song Phương (Bilateral Trade Agreement ố BTA), được VC và Hoa Kỳ, ký kết tại Hoa Thuận Ðốn ngày 13-7-2000 (thời Bill Clinton). Nhìn chung, đây là một văn bản rất chi tiết (detailed) và vô cùng phức tạp (complicated), qua 7 chương chính (chapter) và 9 phụ lục (annexe). Ngoài ra trong văn bản (BTA), có kèm theo mục Ðịnh Nghĩa (Definition), nói rõ nhiệm vụ Các Bên (Parties-Dành chung hai nước) và Bên (Party ốChỉ riêng từng quốc gia). 
             Ngay từ Chương Ðầu nói về Thương Mại Hàng Hóa, đã đề cập ngay tại Ðiều 1 ố Về Quy Chế Tối Huệ Quốc (Most Favored Nation ố MFN), còn được gọi là Quan Hệ Thương Mai Bình thường. mà hai nước đã cam kết khi ký văn bản, là phải lập tức thi hành vô điều kiện. Nhưng quan trọng nhất là ở Chương II, điều 2 có nói tới Quyền Sở Hửu Trí Tuệ (Intellectual property rights), rất chi tiết, bao gồm Quyền Tác Giả (Copyright), Quyền Liên Quan (Related right), Nhãn Hiệu Hàng Hóa (Trademarks), Bằng Sáng Chế (Patents).. Trong lúc VN Xã Nghĩa và Trung Cộng, hiện nay đang đứng đầu thế giới về tội xâm phạm Quyền Sở HửuTrí Tuệ của Nhân Loại, trong đó làm thiệt hại nhiều nhất cho Ðại Công Ty Microsolf của tỷ phú Mỹ Bill Gate. 
            Chính những điều khoản liên quan tới “ NGƯỜI CÓ QUYỀN (Right Holder)” bao gồm Thế Nhân hoặc Pháp Nhân, là người duy nhất có quyền cấp độc quyền sáng chế (Exclusive Lisensee), trước Pháp Lý và Công Ước Quốc Tế (International Convention), là một trong những điều còn lại, là những con dao hai lưởi đã gây không biết bao nhiêu phiền phức cho cả Trung Cộng lẫn VN, trong việc buôn bán gian lận đã bọ phát hiện và tố cáo hằng ngày.

+ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) : 
            Tổ chức thương mại quốc tế hay Chợ Toàn Cầu, là một tổ chức mang tính đa quốc gia, với nhiều hệ thống thương mại, nhằm mục đích cải thiện môi trường đầu tư, nhằm tạo phúc lợi cho dân chúng, thúc đẩy phát triển kinh tế các nước thành viên, bằng cách mở cửa thị trường, để cùng cạnh tranh làm ăn trong qui định của luật pháp. 
            Nói chung WTO là sự tiếp nối của Thỏa Ứớc Tổng Quát về Quan Thuế và Thương Mại (GATT), ra đời từ năm 1947 nhằm khuyến khích tự do mậu dịch, bãi bỏ chế độ hạn ngạch trong sự hợp tác thương mại quốc tế. Tháng 4-1994 các nước thành viên của GATT họp tại Marrakesh và ngày 1-1-1995 tổ chức thương mai thế giới, chính thức ra đời, đặt trụ sở tại Genève (Thụy Sĩ), với 120 quốc gia thành viên. Hiện VN đã được thu nhập vào tổ chức này, sau khi trở thành một quan sát viên, trong cuộc hội nghị cấp bộ trưởng của WTO vào năm 1996.. Vào tổ chức này, ngoài việc các thành viên phải dành qui chế tối huệ quốc cho nhau, cũng như không được phân biệt để đối xử giữa hàng hóa ngoại nhập và trong nước, về phương diện thuế quan và luật pháp. 
            Mang tiếng là thành viên của WTO nhưng trong tổ chức thương mại quốc tế này, vẫn chia thành ba nhóm rõ rệt, với khoảng cách (GAP) về trình độ của các thành viên thuộc nhóm Phát Triển (Developed countries), Ðang Phát triển (Developing ) và Kém Phát Triển (Lesser-developed). Chính vì vậy nên trong nội bộ luôn xãy ra những tình huống rất bất công, mà Mỹ ốNhật và các nước Âu Châu trong nhóm một (Phát Triển), thường bày ra các luật lệ, như một thứ công cụ, để che đậy chính sách bảo hộ của mình. Do trên một số quốc gia Ðang Phát triển, đã manh dạn tố cáo Mỹ ‘BẮT NẠT HỌ ‘ (Bully), làm tổn thương đến tính chất công bằng và độc lập của WTO. Chẳng những thế, các nước còn quan niệm là Tổ Chức Thương Maị Quốc Tế, chỉ ưu tiên đáp ứng nhu cầu của Hoa Thịnh Ðốn mà thôi, giống như thực trạng hiện nay của các Tổ Chức Quốc Tế IMF (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế ) và WB (Ngân Hàng Thế Giới). 
            Trung Cộng từ ngày mở cửa trãi thảm đón Nixon-Kissinger năm 1972 nhưng mãi tới 15 năm sau, mới đạt được Hiệp Ðịnh Song Phương với Mỹ và sau đó được hội nhập vào WTO năm 2001. Là một nước lớn với 731 triệu lao động, có giá rẽ mạt so với bất cứ nước nào, như là một điều kiện tiên quyết thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất trong khu vực (39%). Lợi điểm này càng tăng nhiều lần, khi TC là thành viên của WTO, có điều kiện mở rộng hoạt động thương mại toàn cầu, mà VN là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất. 
            Xưa nay hai nước Việt-Hoa, ngoài vấn đề có chung biên giới dài, còn có nhiều điểm tương đồng về hàng xuất cảng, nhất là sau thời kỳ hai nước mở cửa, để hội nhập vào thế giới tư bản. Tuy nhiên hàng hóa của hai nước, có tương đồng về sản phẩm như hàng may mặc, nông thủy sản.. nhưng khác biệt về cơ cấu sản xuất. Trung Cộng với đất rộng, lao động rẽ, vốn nhiều.. nên cùng một món hàng, lại có giá thành rẽ hơn hàng VN nhiều lần. Hơn nửa, TC đang là thanh viên của WTO, nên hàng VN không làm sao cạnh tranh nổi, dù phẩm chất hàng hóa VN rất tốt và an toàn vệ sinh hơn hàng TC. Một ảnh hưởng khác cũng không kém phần quan trọng đối với VN, là dù hứa hẹn để được vào WTO nhưng đến nay, TC vẫn cứ thả nổi tỷ giá của Ðồng Nhân Dân Tệ, nay lại trở thành đồng tiền trao đổi tự do, đối với các loại kim ngạch khác của thế giới, trong đó có đồng đo la Mỹ. 
            Từ năm 2001 tới nay, VN và Trung Cộng được đánh giá là hai nước phát triển kinh tế nhất vùng Ðông Nam Á. Cho dù vậy VN cũng cần phải 1-2 thập niên mới chỉ theo kịp Thái Lan, nếu trong nước bài trừ được tham nhũng. Gia nhập WTO sẽ giúp VN thoát được nền kinh tế lạc hậu hiện nay với điều kiện VC phải hủy bỏ hay cải tổ nền kinh tế định hướng bao cấp xã hội chủ nghĩa, cùng nền chính trị độc đảng độc tài, nền hành chánh kịch cởm quan liêu và sự chỉ huy tập quyền trong tay một nhóm đảng viên cao cấp tại Bắc Bộ Phủ. Những điều kiện nêu trên, đồng thời cũng là cửa tử xô ngả chế độ đương thời. Như vậy ai dám bảo đảm Ðảng CS thực thi đứng đắn ? cho dù người Mỹ có đứng bên cạnh để quan sát, sửa sai . 
            Như các lần ký kết bí mật với Trung Cộng,để nhượng đất bán biển cho kẻ thù. Lần này VC cũng bí mật nhượng bộ lớn lao quyền lợi của đồng bào, để Mỹ chấp thuận cho vào WTO. Theo đó, tất cả các sản phẩm nhập cảng của Hoa Ky, từ dụng cụ xây cất, dược phẩm , hàng không, nông phẩm vào VN, được VC miễn hay đánh thuế tối đa là 15%. Ngược lại hàng VN vào Mỹ phải được kiểm phẩm theo qui định của WTO, do chính Mỹ giám sát . Với các dịch vụ viễn thông, năng lượng, ngân hàng.. Mỹ cũng đòi VN phải mở rộng để được cạnh tranh và dùng luật lệ của WTO giải quyết tất cả tranh chấp nếu có. 
            Tóm lại VN dù có gia nhập WTO thì cũng chẳng có lợi lộc gì , vì xã nghĩa tới nay vẫn còn theo đuổi một nền kinh tế, trong đó quốc doanh chiếm phần lớn. Do trên hàng hóa xuất cảng của VN không thể cạnh tranh nổi với hàng Trung Cộng. Ngoài ra khi vào WTO, VN sẽ được gắn nhản hiệu định danh kinh tế phi thị trường,kéo dài 12 năm. Việc này, chỉ tạo điều kiện cho các thành viên khác, kể cả Mỹ dễ dàng hơn trong việc chống phá giá các hàng bản địa của VN,như tôm đông lạnh, cá fish, hàng may mặc, giầy dép khi xuất cảng.. Trước tình cảnh này, khiến tổ chức Oxfam của Anh Quốc cũng chỉ trích là người Mỹ đã lợi dụng bốc lột các nước nghèo như VN khi xin gia nhập WTO. Trong lúc đó hầu hết dư luận trong ngoài nước đều có chung nhận xét là VC quá sai lầm và làm mất thể diện của dân tộc , khi chấp nhận bãi bỏ công cuộc đầu tư ngành dệt may của nước ta, để được Mỹ cho vào WTO. 
            Trong lúc VC hồ hởi chấp nhận từ điều kiện này tới nhượng bộ khác, chỉ mong Mỹ cấp qui chế bình thường vĩnh viễn, cũng như xóa tên trong danh sách các nước vi phạm nhân quyề, để được vào WTO. Sự kiện này chỉ có lợi cho Ðảng cầm quyền nhưng khiến cho đồng bào nghèo cả nước chịu thiệt thòi quá lớn vì sự chèn ép của Mỹ., trên phương diện giao thương bình đẳng giữa hai nước. 
            Ngày 4-6-2006, viện lý do có lời mời của Bộ trưởng QP VC là Phạm Văn Trà, nên Bộ trưởng QP Mỹ Donald Rumsfiel, đã tới VN ba ngày. Sự hiện diện của Rumsfiel tại Hà Nội, được dư luận thế giới bàn tán sôi nổi, trong đó có ý kiến cho là đã đến lúc người Mỹ muốn lôi kéo VC vào trong liên minh quân sự để chống lại ý đồ bá quyền của Trung Cộng trong vùng và trên biển Ðông. Ðây là bước thứ ba trong quan hệ giữa hai nước, sau khi đã đạt được bình thường hóa quan hệ ngoại giao và thương mại. 
            Sự kiện trên làm cho Bắc Bộ Phủ chới với, vì không thể cùng lúc chơi trò đu giây giữa anh lớn Trung Cộng và tư bản Hoa Kỳ. Cái khổ sở của Hà Nội hiện nay, vẫn là nổi sợ cho Mỹ vào, trong nước sẽ nổi lên các phong trào đòi dân chủ, tự do và đa đảng. Ðây mới chính là lối thoát để nước ta tránh được sự đồng hóa của Trung Cộng đang âm thầm tiếp diễn hằng ngày, khi biên giới giữa hai nước Việt-Trung bị bỏ ngỏ. Có Mỹ hiện diện, Trung Cộng sẽ không còn độc quyền thao túng Ðảng VC. Biết vậy nhưng VC đâu dám ra mặt phản thùng thiên triều. 
            Tuy nhiên VC xưa nay nói một đàng làm một nẽo, nhất là lúc này cán bộ đảng từ trên xuống dưới đều thích đồng đô la Mỹ. Cho nên dù không muốn chọc giận Bắc Kinh, cũng không có nghĩa là VN phải đứng vòng ngoài, trong tình hình hổn độn hiện nay, đến nổi Hoa Kỳ phải tái phối trí lực lượng suốt biển Thái Bình Dương, từ Bắc Á tới Ấn Ðộ Dương, mà hầu hết các nước trong vùng đều phải dựa vào Mỹ đê được che chở phòng thủ đất nước mình. 
            Nên dù Rumsfiel chỉ khuyên VN phải tự mình lo phòng thủ vùng biển nước mình, như một nhắn nhe lựa chọn, khiến cho Hà Nội khó mà cưởng lại xu thế chiến lược toàn cầu mới,nghĩa là chỉ có quyền chọn một, chứ không chơi trò đu giây để hưởng lợi như từng làm với Tàu và Nga . 
            Tháng 5-2005 dân Pháp đã tẩy chay ý kiến của Tổng thống Chirac trong cuộc trưng cầu dân ý về việc soạn thảo Hiến Pháp Liên Âu. Sự kiện lịch sử trên làm cho chúng ta chạnh nghĩ tới đất nước, chẳng biết bao giờ đồng bào mới cùng đứng dậy phản kháng tất cả những bất công tủi nhục mà đảng VC đang thao túng khi nắm được quyền trong tay. Những tội lỗi thiên cổ mà bất cứ một người VN nào dù sống trong và ngoài nước, cũng chẳng bao giờ dám làm như “ công khai bán nước, toa rập cướp bốc tài sản quốc gia (vụ nhà máy lọc dầu Dung Quất, vụ hảng đóng tàu, vụ bùn đỏ Cao Bằng, vụ khai thác bauxite Tây Nguyên..”. Ðó là chưa nói tới những thãm trạng đảng cướp của giết người, khủng bố dân lành .. mà điển hình nhất là vụ “ cưởng bức ông Cù Huy Hà Vũ, một nhà đấu tranh chống bạo quyền VC quyết liệt nhất hiện nay tại VN. 
            Có như vậy VN mới còn hy vọng thoát được thảm kịch chiến tranh sắp tới, cho dù có ở trong chiến tuyến nào. Chỉ mong vào được WTO để lên mặt với cả nước, VC đã hy sinh bao nhiêu quyền lợi của đồng bào. Chỉ muốn làm dáng với thế giới và dân đen, VC đã tiêu phí gần 5 tỉ đô la Mỹ để tổ chức 1000 năm Thăng Long, bỏ mặc cho hàng vạn đồng bào tại Trung Phần “ chết sống mặc bay “ trong suốt thời gian bão lụt. 
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di Tháng 11-2010
MƯỜNG GIANG        

Thursday, September 2, 2010

Mỹ sẽ bán đứng Việt Nam tại Biển Đông?


Những diễn biến ngọai giao gần đây đã gây ra một luồng dư luận sôi nổi là phải chăng Mỹ đang muốn liên minh với Việt Nam để đối phó với một nước Trung Hoa đang mưu đồ bá quyền, mà trường hợp trước mắt là những lấn ép lãnh hải tại Biển Đông?
Có ý kiến cho rằng Việt Nam nên nắm lấy cơ hội nghìn năm một thuở này mà duy tân như nước Nhật đã từng làm.
Dĩ nhiên là, trong một bàn cờ rối như ở Biển Đông thì có một nước cờ mà đi cũng là một niềm vui, dù cho rằng tòan thể thế cờ hình như vẫn còn là một thế kẹt.
Nhưng câu hỏi được đặt ra là, đây có phải là khởi đầu của một thế cờ mới chăng?
Biển Đông là một bàn cờ có nhiều tay chơi cho nên diễn biến ra sao còn tùy thuộc vào não trạng của từng tay chơi một.
Não trạng của con cọp Trung Hoa khổng lồ thì ai cũng rõ biết, đó là nó đang muốn sổ lồng, nó muốn cả vùng Biển Đông là cái ao tắm của nó.
Não trạng của các nước nhỏ quanh vùng thì rõ ràng là "thủ". Giống như một anh chàng tay không bỗng thấy mình đứng trước một con cọp dữ thì vũ khí chính chỉ là tiếng hét mà thôi.
Còn não trạng của "con cọp giấy" Hoa Kỳ (tên mà Mao đặt cho Mỹ năm 1956) là gì?
Vì đây là một tay chơi vừa nhập cuộc cho nên việc tìm hiểu anh ta cho rõ ràng là rất cần thiết.
Nếu có thể lấy lịch sử mà đóan trước tương lai, thì nước Mỹ là một nước luôn luôn hành động và trung thành theo đuổi một tư tưởng "thịnh thời". Những tư tưởng này có nhiều hình thức và tên gọi khác nhau (như lý thuyết, chương trình, sách lược) nhưng chung qui thì đó là một lọai đồng thuận phát sinh ra bởi một môi trường tự do tư tưởng, lưỡng đảng và chính sách minh bạch mà ra.
Thử nhìn lại một số tư tưởng "thịnh thời" gần gũi với chúng ta nhất.
Sau thế chiến thứ hai, người Mỹ tin rằng để chống lại chủ thuyết Cộng Sản đang phát triển mạnh trong các nước bị tàn phá thì điều cần phải làm là tái thiết. Do đó họ đã bỏ ra 44.3 tỷ Mỹ Kim từ năm 1945 cho đến 1953 để phục hồi nền kinh tế Âu Châu. Những chương trình viện trợ đó thường được gọi chung là Marshall Plan (Truman, 1948).
Marshall Plan không những chặn đứng Cộng Sản ở Châu Âu mà còn đưa Tây Âu đến một thời cực thịnh chưa từng thấy, và đó cũng là lý do gián tiếp của sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết sau này.
Bên phía Á Châu thì người Mỹ tin rằng với những quốc gia nhược tiểu nhưng có nhiều liên hệ về văn hóa lịch sử như Trung Hoa, Việt Nam,Thái Lan và Mã Lai, thì một quốc gia bị đổ sẽ kéo theo sự sụp đổ dính chùm của các quốc gia khác. Dwight D. Eisenhower đặt tên lập luận đó là lý thuyết Domino (Domino Theory, 1954.) vì nó giống như một hàng domino, một con cờ bị lật sẽ dồn những con cờ khác lật theo.
Vì vậy suốt từ năm 1950 cho tới 1980 người Mỹ đã không tiếc tiền đổ vào miền Đông Nam Á để be bờ, ngăn chặn. Những nỗ lực này thất bại vì Trung Hoa và bán đảo Ấn Trung (trong đó có Việt Nam) đã bị mất, nhưng đổi lại các quốc gia khác trong vùng như Thái Lan, Mã lai, Ấn Độ và Indonesia đã có đủ thời gian để tự cải tiến và vượt qua cái hấp dẫn của chủ nghĩa Cộng Sản.
Sự kiện chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975 tuy bị coi là một thất bại của lý thuyết Domino nhưng thực ra nó còn là hệ lụy của một chủ thuyết mới ở Mỹ. Lúc này người Mỹ đã nhận ra rằng cả hai bên Tư Bản và Cộng Sản đã phát triển vũ khí hạt nhân nhiều đến nỗi, ngay cả lực lượng trừ bị lọai thứ ba cũng đủ sức tiêu diệt tòan thể nhân lọai nhiều lấn (nghĩa là nếu một nước bị tấn công bất ngờ và lực lượng nguyên tử lọai tấn công bị tiêu diệt tới hai lần liên tiếp thì lực lượng nguyên tử lọai thứ ba cũng vẫn có thể tự sát cả thế giới.) Trong một bối cảnh như thế thì chiến thắng là vô nghĩa và do đó con đường phải đi là hòa hõan với nhau (Detente), cuộc chiến về quân sự đã lỗi thời và chiến tuyến mới chính là kinh tế. Từ năm 1969 cho tới 1977 Nixon và Kissinger đã làm hòa với Nga, làm bạn với Tàu để mở rộng thị trường trong một chính sách hòa hõan và xáp lại gần nhau (Detente and Rapprochement). Việt nam là một con cờ lỗ lã trong nước cờ kinh tế này, và vì thế mà bỏ đi càng sớm thì càng tốt.
Từ năm 1981 cho đến 1989 sự phục hồi kinh tế của Hoa Kỳ đã vững mạnh đến nỗi Reagan có thể chủ trương "Hòa Bình trong thế mạnh" (peace through strength). Ông không để cho Liên Bang Xô Viết rảnh tay lo việc kinh tế nữa bằng cách giáp công ba mặt: (1) Không bán cho LBXV những kỹ thuật cao, (2) cạnh tranh hàng hóa để mặt hàng LBXV mất giá và (3) tăng cường chi phí quốc phòng làm cho LBXV phải chạy đua. Trong những năm sau cùng của cuộc chiến tranh lạnh, Moscow đã phải chi tới 25% GDP (tổng sản lượng quốc gia) cho kinh phí quân sự mà vẫn không theo kịp Mỹ trong khi tòan dân đói khát phải xếp hàng cả nửa ngày để mua được một mẩu bánh mì. Cuộc chiến đã kết thúc không một tiếng súng trong thời Tổng Thống Bush (cha).
Từ đó cho đến nay, Những tin tưởng của Hoa Kỳ vẫn phản ảnh những ưu tiên đã có từ thời Nixon và Kissinger. Nghĩa là vẫn tìm thị trường phát triển bằng cách kết thân với Trung Quốc. Nhưng với sự chỗi dậy của Nga và sự phát triền hải quân của Tàu mới đây, nhiều lý thuyết gia Mỹ đã bắt đầu đặt lại phương trình.
Một lý thuyết gia được nói tới nhiều là George Friedman. Trên tạp chí hàng đầu của giới trí thức Mỹ, khi người ta đăng bài của Tổng Thống Obama về những kỳ vọng của 40 năm sắp tới, ngay bên cạnh người ta cũng đăng ý kiến của ông về viễn ảnh thế giới 40 năm sau (The Smithsonian, special issue, Our 40th Anniversary 1970-2010.)
Có thể gọi ông là một quân sư vì ông là chủ tịch của một hãng tình báo tư, hãng STRATFOR. Hãng của ông cung cấp tình báo cho các chính phủ và các cơ sở thương mãi. Đây là hãng tư nhân duy nhất được nối mạng với hệ thống chiến tranh giả định của chính phủ HK (Joint Theater Level Simulation by the Joint Warfighting Center.)
Không rõ ông có tiếng nói gì trong những chính sách của Obama hay không, nhưng là một tiến sĩ chính trị tại Cornell University, ông đã viết nhiều sách tiên đóan về tương lai thế giới như The Next 100 Years, America's Secret War, The Intelligence Edge, and The Future of War.
Ông là người duy nhất trong các tác giả hiện đại đã tính tóan một vấn đề dựa trên các dữ liệu của cả hai yếu tố kinh tế và quân sự.
Những tiên đóan của ông có khi lạ lùng khó tin, nhưng quan trọng không phải là ở sự việc có xảy ra hay không, hoặc sẽ xảy ra đúng ngày giờ không, mà là những yếu tố cấu tạo ra sự việc có tính cách thuyết phục hay không.

Ông tiên đóan:
Năm 2020 Nước Tàu sẽ phân chia.
Năm 2050 Thế chiến thứ 3 sẽ xảy ra giữa các liệt cường là Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan và Nhật.
Tại sao Ba Lan (nền Kinh Tế thứ 21 trên thế giới) sẽ trở thành liệt cường trong vòng 40 năm thì đó là việc cần phải chờ xem và Friedman cũng không đưa ra nhiều chứng cớ rõ ràng. Tuy nhiên ông nói Ba Lan vì ở giữa hai gọng kìm Đức và Nga cho nên sẽ luôn luôn là đồng minh trung thành của Mỹ.
Thổ Nhĩ Kỳ (nền Kinh Tế thứ 17) là nước tiền tiến nhất của khối Hồi Giáo, có quân đội hùng mạnh nhất Châu Âu, đang là một thế lực hải quân ở Địa Trung Hải, sẽ có thể trở thành trung tâm của khối Hồi Giáo và sẽ cần một lực lượng hải quân rộng hơn để nối liền các quốc gia hồi giáo quanh vùng Ấn Độ Dương.
Về việc nước Tầu, Friedman cho rằng Trung Hoa sẽ không thể trở thành một đe dọa cho Mỹ vì trong sân nhà của Trung Hoa sẵn có một tỷ người đang đói rách, khác chủng tộc, và sống trong các vùng khô cằn. Một quốc gia với vóc dáng kinh tế và quân sự chưa vững vàng như vậy thì việc lo nội trị đã đủ là một vấn đề rồi. Chưa kể đó là những yếu huyệt sẽ quật ngã Trung Hoa nếu chiến tranh tòan diện xảy ra, cho nên Trung Hoa sẽ tránh những đụng độ lớn.

Nước Nhật là quốc gia có nền kinh tế ngang ngửa với Trung Hoa, nhưng dân Nhật đòan kết, nền kinh tế và quân sự vững bền. Con đường sống của Nhật là hàng hải cho nên họ ưu tiên phát triển hải quân và đang đứng đầu Á Châu. Mỗi năm chi phí quốc phòng của Nhật là 45.8 tỷ, chỉ sau Hoa Kỳ và Anh Quốc, to gấp rưỡi chi phí của Tẩu (29.9 tỷ). Quan trọng hơn, kinh phí đó chỉ là 1% GDP của họ, có nghĩa là họ có thể tăng gấp 3 lực lượng hải quân một cách dễ dàng (Mỹ 3.6% GDP kể chung các binh chủng.)
Friedman không đề cập nhiều đến Ấn Độ và Ba Tây. Có thể ông cho rằng Ấn Độ sẽ không bao giờ thách thức Mỹ, hoặc như nhiều nhà phân tích khác (i.e Joel Kotkin) thì Ấn Độ sẽ không tiến xa chỉ vì xã hội Ấn luôn luôn phân hóa. Còn Ba Tây thì cho đến nay vẫn chưa là một hải lực quan trọng.
Friedman tiên đóan Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật sẽ thách thức sức mạnh hải quân của Hoa Kỳ và cuộc chiến sẽ khởi đầu bằng những đụng độ trên không gian để tiêu diệt vệ tinh viễn thông điều khiển tầu bè của nhau.
Như đã nói ở trên, những tiên đóan của Friedman lạ lùng và khó tin, nhưng quan trọng không phải là ở sự việc có xảy ra hay không mà là những chứng cớ. Về điểm này thì hầu như các bình luận gia của Mỹ đồng ý với nhận xét của Friedman về hai nước Nhật và Tầu, ít ra là chưa có nhiều ý kiến đối lập.

Thế kỷ 21 cho thấy tầm quan trọng về kinh tế của khu vực Thái Bình Dương, số lượng giao thương đã vượt qua Đại Tây Dương.
Hoa Kỳ là cường quốc duy nhất tiếp cận với cả hai đại dương cùng một lúc, và là cường quốc duy nhất kiểm sóat tất cả các mặt biển trên trái đất. Sức mạnh kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ tùy thuộc vào Hải Quân. Cho nên sẽ không ai được thách thức Hải Quân của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ sẽ kềm giữ những ai có tham vọng phát triển Hải Quân để trở thành một mối lo cho họ.
Hoa Kỳ trong một tương lai gần sẽ vẫn là vô địch về kinh tế và quân sự. Trong vòng 40 năm tới, dân số Hoa Kỳ sẽ trẻ lên 42%, trong khi Trung Hoa già đi 10%, Âu Châu già đi 25% Nam Hàn già đi 30% và Nhật 40% (Theo ước tính cùa sở kiểm tra dân số Hoa Kỳ.) Sự trẻ trung hóa đó cộng với một nền giáo dục thúc đẩy công nghệ cao (các trường Đại Học Mỹ đào tạo nhiều kỹ sư hơn Ấn Độ và Nhật xét theo cả hai hai phương diện tỳ số và số lượng,) cộng với yếu tố đất rộng, nhiều tài nguyên nội địa, là những lý do giúp Hoa Kỳ duy trì vị thế độc tôn này.
Nếu giới quân sự Mỹ có ý kiến tương đồng với Friedman về những thế lực có thể thách thức sức mạnh của Mỹ trong tương lai thì quốc gia mà Mỹ lưu tâm trong vùng Thái Bình Dương là Nhật chứ không phải là Trung Hoa. Và lý do Mỹ phải bảo vệ đường biển tại Biển Đông là có chủ ý không cho Nhật có cái lý do là cần phát triển hải quân thêm nữa để bảo vệ lấy mình.
Một khi Trung Quốc nhượng bộ quyền hải lưu của Nhật và Mỹ vừa đủ, thì thái độ của Hoa Kỳ sẽ lập tức đổi chiều. Mỹ vẫn coi trọng thị trường rộng lớn của Trung Hoa và vẫn coi Trung Hoa là không nguy hiểm.
Việt Nam trở nên quan trọng với Mỹ chỉ vì Trung Quốc đã đi quá đà cần phải điều chỉnh lại. Nhưng sự quan trọng này là tạm bợ và không thỏai mái vì kinh nghiệm đã làm cho Mỹ không tin vào Việt Nam được. Sự liên kết hay tương trợ này chỉ có thể kéo dài nếu Việt Nam được sự hậu thuẫn chính trị trong nước Mỹ và, tuy chưa đủ khả năng kiểm sóat Biển Đông thì cũng phải có khả năng phá rối.

Nhìn vào thế cờ Biển Đông, cho đến khi Việt Nam thực sự là một tay chơi có bản lĩnh và căn cơ, Việt nam vẫn chỉ là một nước cờ người khác tạm dùng.
Và nếu thực sự như vậy, thì những lạc quan của người Việt khắp nơi vẫn giống như những giọt bọt bèo mau vỡ mà thôi.
Trần Mạnh Trác