Tàu ngầm và chiến hạm Trung Cộng tham gia cuộc thao diễn hải quân quốc tế ngày 24/04/2009 ngoài khơi Thanh Đảo, nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hải quân Trung Cộng.
Quyết định của Bắc Kinh đặt Biển Đông vào diện "quyền lợi quốc gia thiết yếu", thể hiện một tham vọng độc chiếm khu vực được mệnh danh là « Vịnh Ba Tư của Châu Á ». Hành động này trực tiếp xâm phạm lợi ích quốc gia của nhiều nước Đông Nam Á, và thách thức Hoa Kỳ nhưng Trung Cộng vẫn tiến hành vì Biển Đông đã trở thành cần thiết và Bắc Kinh tự cho rằng đã đủ khả năng khống chế.
Trong bài phân tich ngày 13/07/2010 mang tựa đề ‘’Full steam ahead for China’s territorial ambitions’’, Peter Hartcher, biên tập viên quốc tế của nhật báo Úc Sydney Morning Herald phân tích các yếu tố thúc đẩy tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc. Quyết định về Biển Đông là yếu tố mới nhất trong một loạt những hành động gần đây nhằm thực hiện chủ thuyết mới về Hải quân của Bắc Kinh. Điều được tác giả nêu bật là thái độ của Trung Cộng coi thường phản ứng quá yếu ớt của các nước Đông Nam Á, và trong tình hình quyền lợi của Mỹ cũng bị đụng chạm, Hoa Kỳ sẽ phải gánh vác trách nhiệm tìm ra giải pháp. RFI xin hân hạnh được chuyển dịch bài viết này để quý vị độc giả tham khảo.
Trong một câu châm ngôn nổi tiếng, cố lãnh đạo Trung Cộng Đặng Tiểu Bình kêu gọi đồng hương của mình "che giấu vẻ hào nhoáng để chờ thời". Đó là cách đây hơn 20 năm. Giờ đây, dường như giới lãnh đạo Trung Cộng đã hoàn tất việc chờ thời.
Với chủ trương định nghĩa lại một cách quyết đoán vị trí của mình trên thế giới, Trung Cộng đã đặt biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) vào diện "quyền lợi quốc gia thiết yếu", tức là nơi mà không ai khác có thể đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ - tương tự như Đài Loan và Tây Tạng. Trung Cộng đã vạch một đường màu đỏ trên bản đồ châu Á và thách thức bất cứ ai vượt qua.
Điều này đã đẩy Trung Cộng vào thế xung đột trực tiếp với các đòi hỏi của năm nước láng giềng, và thách thức vai trò thống trị của Hải quân Mỹ trên vùng biển. Một phần ba của tất cả hàng hóa chuyển vận bằng đường thủy đều đi qua vùng biển mà giờ đây Trung Cộng tuyên bố độc quyền, giáp Đài Loan ở phía bắc, Việt Nam ở phía tây, Philippines ở phía đông, Malaysia và Brunei ở phía nam.
Vùng này chứa các mỏ dầu khí; một số nhà phân tích Trung Cộng đã gọi nơi này là "vịnh Ba Tư ở châu Á" do tiềm năng dầu hỏa dồi dào và trải rộng của khu vực. Chủ trương của Trung Cộng đặc biệt khiêu khích, vì như vậy họ đã bác bỏ thỏa thuận không ràng buộc năm 2002 với các nước láng giềng Đông Nam Á để giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua thương lượng hòa bình.
Đây là một cuộc khủng hoảng, nhưng là một cuộc khủng hoảng thầm lặng. Lý do chủ yếu là vì các nước bị đụng chạm đang phản ứng một cách dè dặt đầy lo âu trước người láng giềng đang vươn lên của họ. Việt Nam đã minh thị yêu cầu Trung Cộng thực hiện thỏa thuận, nhưng những nước khác đã gần như im hơi lặng tiếng.
Còn Hoa Kỳ thì sao ? Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương, Kurt Campbell, đã nói với nhật báo Úc Herald: "Tôi nghĩ rằng Mỹ và Trung Cộng có một cuộc đối thoại phong phú ở cấp nhà nước trên một loạt vấn đề. Trong bối cảnh bao quát đó, luôn luôn có các vấn đề mà Mỹ và Trung Quốc bất đồng với nhau, và chúng tôi hiểu rằng những khác biệt đó liên quan không chỉ đến vấn đề quyền của Đài Loan hoặc các vấn đề như Tây Tạng, nhưng cũng liên quan đến các vấn đề như biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).
"Chúng tôi đã tìm cách hợp tác chặt chẽ để thiết lập một cuộc đối thoại, không chỉ với Trung Cộng mà với cả những bạn bè của chúng tôi ở Đông Nam Á, sao cho chúng tôi có thể hoàn toàn hỗ trợ tiến trình năm 2002 giữa Trung Cộng và các quốc gia Đông Nam Á nhằm giải quyết mọi vấn đề nổi cộm thông qua ngoại giao.''
Nói cách khác, Mỹ cũng muốn Trung Cộng trở lại nguyên trạng trước đây, đàm phán thay vì đơn phương đòi hỏi. Như thường lệ, Hiệp hội các nước Đông Nam Á lại vô dụng khi phải đối mặt với rắc rối. Vai trò tìm kiếm một giải pháp một lần nữa lại phải do Mỹ gánh vác.
Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), có thêm Trung Cộng, Mỹ, Úc và một loạt các nước khác, họp lại tại Hà Nội ngày 23 tháng bảy. Biển Đông là một chủ đề nóng.
Tại sao Trung Cộng nhòm ngó Biển Đông ? Bởi vì đó là điều cần phải làm, theo như lời một quan chức hàng đầu của hải quân Trung Cộng. Chuẩn Đô đốc Trương Hoa Trần, Phó Tư lệnh Đông Hải Hạm đội, đã nói với nhật báo Singapore The Straits Times: "Với việc mở rộng quyền lợi kinh tế của Trung Cộng, lực lượng hải quân muốn bảo vệ tốt hơn các tuyến giao thông vận tải, và đảm bảo an toàn cho các tuyến hàng hải chủ chốt của mình."
Walter Russell Mead, chuyên gia thuộc Hội đồng Đối ngoại (Council on Foreign Relations) không tán đồng : "Giải thích này rất nghèo nàn nếu xét đến những tham vọng thương mại của Trung Quốc; họ bảo vệ loại thương mại nào? Trung Cộng đang cần đến nguồn năng lượng và nguyên liệu từ khắp nơi trên thế giới."
Trung Cộng đẩy mạnh tham vọng ở Biển Đông vì đã có khả năng làm việc này, theo Tô Quang Vũ, một viên tướng Trung Cộng đã về hưu. Ông nói với nhật báo Hồng Kông South China Morning Post: "Sự vắng mặt lâu dài của Trung Cộng tại vùng biển đặc quyền kinh tế trong các thập kỷ qua là một điều bất thường trong lịch sử, và bây giờ mới bắt đầu trở lại hoạt động bình thường. Sở dĩ chúng tôi lặng yên trong việc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng trong quá khứ , đó là vì hải quân của chúng tôi chưa đủ sức bảo vệ các khu kinh tế của mình, nhưng bây giờ thì hải quân đã có khả năng thực hiện nhiệm vụ."
Vào lúc này, Trung Cộng nghĩ rằng họ có thể điềm nhiên thúc đẩy tham vọng lãnh thổ mà vẫn vô sự. Theo Vương Hàn Linh, một chuyên gia về các vấn đề hàng hải tại Viện Khoa học Xã hội Trung Cộng : "Trên thực tế, tranh chấp đã nẩy sinh từ khi dầu mỏ và các nguồn tài nguyên đại dương khác được phát hiện dưới quần đảo Điếu Ngư [mà Nhật Bản tuyên bố chủ quyền dưới tên gọi Senkaku] ở vùng biển Hoa Đông , và quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở khu vực biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) trong thập niên 1970.''
Vào thời đó, đã từng có suy nghĩ là các quốc gia Đông Nam Á có thể hình thành một mặt trận chung chống lại Trung Cộng, một khả năng “từng làm Bắc Kinh lo ngại", theo lời ông Vương, nhưng mối quan ngại này ngày nay đã tan biến sau ba thập kỷ bất động từ phía các nước Đông Nam Á. "Chúng tôi thấy rằng bản thân các nước láng giềng còn tranh chấp lãnh thổ với nhau, và có lợi ích quốc gia để bảo vệ, cho nên khó mà xây dựng một mặt trận thống nhất chống lại Trung Cộng. Ngay cả khi họ thành công trong việc liên kết với nhau, thì họ vẫn không đủ mạnh để đánh bại Trung Quốc ".
Xác định Biển Đông là vùng quyền lợi quốc gia thiết thân là một trong nhiều động thái Bắc Kinh tiến hành trong năm nay để mở rộng phạm vi thống trị của Hải quân Trung Cộng. Đầu tiên hết, họ đã loan báo một chủ thuyết hải quân mới mang tính bành trướng. Cho đến nay, khu vực hoạt động của Hải quân Trung Cộng được giới hạn ở cái gọi là Chuỗi đảo thứ nhất, trải dài từ Nhật Bản đến Philippines. Nhưng bây giờ Bắc Kinh tuyên bố chính sách “phòng ngự viễn dương”, vươn tới Chuỗi đảo thứ hai, một khu vực trải dài và vươn ra mọi hưóng xuống đến tận đảo Guam, Indonesia và Úc.
Kế đến, Trung Cộng đã tung ra những chiến dịch tuần tra hung hãn hơn và những cuộc tập trận hải quân để bổ sung hiệu năng tác chiến cho học thuyết mới. Trong tháng tư 2010 chằng hạn, một hạm đội gồm 10 chiếc tàu đã vượt qua Chuỗi đảo thứ nhất, một cuộc diễn tập có quy mô chưa từng thấy đối với Trung Cộng.
Động thái thứ ba là Trung Cộng tiếp tục đẩy mạnh việc tăng cường năng lực cho hải quân, trong đó việc xây dựng một căn cứ tàu ngầm dưới mặt đất trên đảo Hải Nam, và một hàng không mẫu hạm chiến đấu, dự trù hoạt động trong vài năm tới.
Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Robert Willard, cho biết trong tháng tư : "Đặc biệt đáng quan ngại là các yếu tố hiện đại hóa quân sự đó của Trung Cộng lại có dấu hiệu là nhằm thách thức quyền tự do hành động của chúng ta trong khu vực."
Với nền kinh tế thịnh vượng và năng lực ngày càng gia tăng, Bắc Kinh không còn chờ thời nữa mà đang hành động để khẳng định bản thân.
REUTERS/Guang Niu
Mai Vân
Thursday, July 29, 2010
Wednesday, July 28, 2010
Tầm nghĩ ngắn
Tin liên hệ
Ðường dẫn liên hệ
Qua bài “Tài lãnh đạo và tài tiêu tiền của chính quyền Việt Nam”, chúng ta thấy được nhiều điều: ngoài thói tham lam, muốn lợi dụng các dự án để vét tiền từ ngân sách nhà nước cũng như khả năng quản trị yếu kém của giới lãnh đạo, còn có vấn đề tầm nhìn.
Có thể nói, một trong những hạn chế phổ biến và quan trọng của người Việt Nam, hầu như trong mọi lãnh vực, từ chính trị đến kinh tế, văn hoá, xã hội, là ở tầm nhìn: Phần lớn đều rất ngắn hạn. Kiểu ăn xổi ở thì.
Bán hàng thì chỉ cần và chỉ nhắm đến những cái lợi ngay trước mắt. Để có lợi, người ta dùng đủ mọi biện pháp, kể cả lừa. Có hai kiểu lừa chính: lừa về phẩm chất và lừa về giá cả. Lừa về phẩm chất bao gồm cả việc bán hàng giả hoặc hàng nhãn ngoại nhưng ruột nội. (Nhớ, có lần, trong một chuyến về Việt Nam, tôi ghé một tiệm bán rượu ở khu Chợ Cũ, Sài Gòn mua một chai cognac để đãi bạn. Nhận tiền xong, giao chai rượu ‘ngoại’ vào tận tay tôi rồi, cô bán hàng cười rất tình tứ và nói: “Khi nào uống xong rồi, anh bán lại cái chai không cho em nhé!” Tôi ngạc nhiên nhưng không nói gì. Đến nhà bạn, khui chai rượu ra, mới nhấm một chút, bạn tôi la lên: “Rượu giả!” Mọi người thử lại: Quả là rượu giả thật.) Nhưng lừa về giá cả thì nhiều hơn. Lừa bằng cách nói thách. Việt kiều về nước thường được người nhà dặn dò: ra chợ mua hàng, nhớ trả giá. Trả bao nhiêu là vừa? Nhiều người nói chung chung: Khoảng một nửa. Nhưng một số người bạn của tôi than thở: Trả một nửa rồi mà vẫn cứ bị hớ như thường!
Cách buôn bán như vậy không phải chỉ thấy ở các khu chợ búa xô bồ và nhếch nhác. Cứ nhìn ngay vào lãnh vực du lịch ở Việt Nam thì cũng đủ thấy. Ở đâu cũng có cảnh chụp giựt và có khi lật lọng. Vô số bạn người Úc của tôi, sau khi đi Việt Nam về, bên cạnh những chuyện vui và lạ, bao giờ cũng có những chuyện buồn bực từ cách hành xử của người bán hàng, người tổ chức các tour và của giới chức trong chính quyền. Ai cũng có nhận xét này: Hầu như ở Việt Nam không ai quan tâm đến việc giữ khách du lịch. Người ta có ấn tượng đẹp hay không? – Không cần biết! Người ta có trở lại hay không? – Không cần biết. Mọi người chỉ muốn có cái lợi ngay trước mắt. Mà các con số thống kê do ngành du lịch cung cấp cũng cho thấy rõ điều đó: Trong những năm vừa qua, phần lớn, khoảng trên 70% du khách quốc tế đến Việt Nam đều “một đi không trở lại”.
Với lối làm ăn như thế, làm sao du lịch, vốn là một mũi nhọn trong lãnh vực kinh tế Việt Nam, có thể phát triển được? Không lạ gì cảnh ngành du lịch Việt Nam cứ bị vỡ kế hoạch liên tục. Trước, người ta dự tính trong năm 2010 này Việt Nam sẽ đón khoảng 6 triệu du khách quốc tế. Đã nửa năm trôi qua, người ta “điều chỉnh” lại: “bây giờ chỉ có thể đạt 4,2 triệu”. Mất gần 2 triệu khách du lịch so với chỉ tiêu. Đâu phải ít? Không ít người lo là về du lịch chỉ vài năm nữa Việt Nam có thể bị Cambodia qua mặt: Năm nay số du khách đến nước họ lên đến khoảng 3 triệu. Gần bằng Việt Nam!
Trong giáo dục cũng toàn những tầm nhìn ngắn hạn: Làm sao để đạt chỉ tiêu trong từng năm, hoặc có khi, từng mùa thi. Khi muốn vươn lên một tầm nhìn xa hơn một chút thì lại tính toán như những kẻ mộng du: chẳng hạn kế hoạch trong 10 năm, từ 2010 đến 2020, đào tạo được 23.000 tiến sĩ với một ngân sách 14.000 tỉ đồng (tức khoảng 778 triệu Mỹ kim). Hầu hết những người quan tâm và am hiểu về giáo dục đều cho đó chỉ là một giấc mơ đầy lãng mạn nhưng không thể thành hiện thực được. Thứ nhất, chi phí ấy không đủ. Để hoàn tất chương trình tiến sĩ ở nước ngoài, nghiên cứu sinh phải học mất ba hay bốn năm (thường là bốn). Mỗi năm mất khoảng trên dưới từ 2 đến ba chục ngàn Mỹ kim. Như vậy số tiền 778 triệu ấy may lắm chỉ đủ để đào tạo được khoảng 5 hay 6 ngàn tiến sĩ là nhiều. Thứ hai, một nửa số tiến sĩ ấy sẽ được đào tạo trong nước. Nhưng ai cũng thấy là ở trong nước, hoàn toàn không có đủ cơ sở cũng như nhân lực cho một số lượng nghiên cứu sinh lớn như thế.
Trong giáo dục cũng toàn những tầm nhìn ngắn hạn: Làm sao để đạt chỉ tiêu trong từng năm, hoặc có khi, từng mùa thi. Khi muốn vươn lên một tầm nhìn xa hơn một chút thì lại tính toán như những kẻ mộng du: chẳng hạn kế hoạch trong 10 năm, từ 2010 đến 2020, đào tạo được 23.000 tiến sĩ với một ngân sách 14.000 tỉ đồng (tức khoảng 778 triệu Mỹ kim). Hầu hết những người quan tâm và am hiểu về giáo dục đều cho đó chỉ là một giấc mơ đầy lãng mạn nhưng không thể thành hiện thực được. Thứ nhất, chi phí ấy không đủ. Để hoàn tất chương trình tiến sĩ ở nước ngoài, nghiên cứu sinh phải học mất ba hay bốn năm (thường là bốn). Mỗi năm mất khoảng trên dưới từ 2 đến ba chục ngàn Mỹ kim. Như vậy số tiền 778 triệu ấy may lắm chỉ đủ để đào tạo được khoảng 5 hay 6 ngàn tiến sĩ là nhiều. Thứ hai, một nửa số tiến sĩ ấy sẽ được đào tạo trong nước. Nhưng ai cũng thấy là ở trong nước, hoàn toàn không có đủ cơ sở cũng như nhân lực cho một số lượng nghiên cứu sinh lớn như thế.
Giáo sư Nguyễn Xuân Hãn nhận định: “Trong 65 năm qua, kể từ khi nước nhà giành được độc lập, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các nước bè bạn và nỗ lực của các cơ sở đào tạo trong nước, đến nay ta mới có khoảng 15.000 tiến sĩ (trong đó có khoảng 5.000 tiến sĩ từ nước ngoài về). Vậy trong vòng 10 năm nữa làm sao có thể đào tạo 20.000 tiến sĩ? Nếu làm không khéo, chúng ta có thể sẽ đào tạo ra hàng ngàn tiến sĩ ‘kiểu ông Ân’.” ‘Ông Ân’ ở đây chính là Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch ở Phú Thọ, người bỏ ra 17 ngàn Mỹ kim để lấy cái bằng dỏm từ Đại học Nam Thái Bình Dương dỏm mà báo chí từng đề cập trong mấy tháng vừa qua.
Không chừng chính chủ trương có vẻ như dài hạn (kéo dài đến 10 năm!) ấy cũng chỉ để phục vụ cho những mục tiêu ngắn hạn: nhằm vơ vét ngân sách của nhà nước. Vơ vét khi cấp học bổng cho nghiên cứu sinh du học ở nước ngoài. Vơ vét khi cho mở các khoá đào tạo trong nước. Vơ vét khi buôn bán bằng cấp cho những người cần có bằng cấp và cho các cơ quan cần hoàn thành chỉ tiêu.
Khi vơ vét như thế, người ta bất chấp hậu quả: chất lượng giáo dục xuống cấp ư? - Mặc kệ! Bằng cấp không tương xứng với trình độ ư? - Mặc kệ!
Mặc kệ tương lai đất nước, người ta chỉ lao vào những món lợi có sẵn trước mắt.
Có thể nói tầm nghĩ ngắn vốn gắn liền với tâm lý ăn xổi ở thì và văn hoá chụp giựt như vậy là một trong những nguy cơ lớn nhất của dân tộc trong thời hiện đại. Ở người dân bình thường, một tầm nghĩ ngắn như thế là một bất lợi; ở giới lãnh đạo, đó là một bất hạnh. Cho cả đất nước.
Nhìn sang Trung Hoa, thấy những tính toán mang tính chiến lược lâu dài, cả mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm của họ - những tính toán được giới bình luận chính trị trên thế giới nhìn thấy và phân tích thật nhiều lâu nay - chúng ta không khỏi lo lắng.
Bởi, trước các tính toán của họ, Việt Nam không thể bình yên mãi được.
Tầm nghĩ ngắn
Nguyễn Hưng Quốc Thứ Hai, 19 tháng 7 2010
Chiến tranh thế giới thứ III :
Nếu đánh bằng kinh tế mà Trung Quốc chưa vỡ, thì bắt buộc Mỹ phải đánh bằng nước cờ cuối cùng,đánh bằng quân sự.
Mỹ đánh Irắc để có nguồn cung cấp dầu bảo đảm, trong lúc chiến sự xảy ra giữa Mỹ với Trung Quốc. Mỹ đánh Afghanistan để đưa quân Mỹ sát biên giới Trung Quốc. Mỹ bán và dàn trận các tên lửa chống hỏa tiễn SM3 khắp Trung Đông, để bảo vệ các mỏ dầu chống hỏa tiễn Trung Quốc, bảo đảm nguồn cung cấp dầu. Bán hỏa tiễn SM3 cho các nước có biên giới giáp Trung Quốc, kể cả Việt Nam nếu chịu đứng chung chiến tuyến với Mỹ đánh Trung Quốc. Mỹ thuê căn cứ Manas ở Kyrgyzstan giáp biên giới phía Tây của Trung Quốc. Mỹ đặt căn cứ quân sự trên đảo của Tây Ban Nha gần Venezuela,nhầm cản Venezuela vận chuyển dầu cứu Trung Quốc. Mỹ triễn khai máy bay 747 trang bị vũ khí Laser, bắn hạ các hỏa tiễn nguyên tử của Trung Quốc bắn lên.
Mỹ sẽ ra lệnh cho các quốc gia đệ tử Mỹ, xung quanh Trung Quốc, khiêu khích cho Trung Quốc ra tay, ví dụ như :
Đài Loan bắn chìm 1 chiếc tàu của Trung Quốc.Việt Nam tấn chiếm lại Hoàng Sa Trường Sa. Nhật đánh chiếm mỏ dầu của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp. Ấn Độ đánh Trung Quốc trên biên giới Ấn Hoa tố Trung Quốc xâm phạm biên giới. Tạo điều kiện cho Bắc Hàn bắn chìm 1 tàu chiến Mỹ, Mỹ đánh chiếm Bắc Hàn,Trung Quốc tham chiến. v.v….… Mỹ mượn cớ đó cùng với các nước đánh Trung Quốc tứ phía. Kể cả đánh bằng nguyên tử.
_ Phía Đông Bắc có Nhật, Nam Triều Tiên.
_ Phía Đông có Đài Loan.
_ Phía Đông Nam có Philipines, Thái lan,có thể có Việt Nam vì Việt Nam cần chiếm lại Hoàng Sa,Trường Sa. Mỹ đang ve vãng Việt Nam và Miến Điện.
_ Phía Nam có Ấn Độ.
_ Phía Tây có quân đội Mỹ và NATO ở Afghanistan. Trung Quốc bắn vào quân Mỹ ở Afghanistan sẽ trúng quân NATO, Các nước NATO cùng nhau tấn công Trung Quốc.
Kết quả nước Trung Quốc tan hoang, vỡ ra từng mảnh vụng, mỗi nước chiếm 1 miếng, Việt Nam chiếm 1 miếng, Nhật chiếm 1 miếng, Ấn Độ chiếm 1 miếng, Tây tạng độc lập, hình thành nhiều quốc gia theo sau sự mâu thuẫn giữa các tôn giáo, các dân tộc thiểu số với Cộng Sản như : quốc gia Hồi Giáo, quốc gia Thiên Chúa Giáo, các quốc gia của các dân tộc thiểu số : Duy Ngô Nhỉ, Quảng Đông,Tiều, Quang Thoại,.…
Nam Hàn thống nhất Nam Bắc Hàn.
Việt Nam sẽ giống như các nước Đông Âu : Ba Lan, Rumani,….sau 1991.
Giải phóng Iran, Venezuela, Cuba, Việt Nam, Bắc Hàn, Miến Điện,… sẽ được bầu cử tự do giống như Irac, có sự kiểm tra của Liên Hiệp Quốc.
Tất cả các quốc gia trên thế giới đều nằm trong lòng bàn tay của Mỹ, Mỹ muốn nước đó sống thì sống,mà muốn chết thì chết.
Hy vọng rằng sẽ không có thế chiến thứ III, mà Trung Quốc vẫn vỡ ra, đó là ước mong lớn nhất của những nhà lãnh đạo Mỹ.
Tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam?
Trong cuộc chiến Việt Nam, Mỹ là người chiến thắng.
Vì mục đích của việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam là nhằm ngăn cản Trung Quốc chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc,đưa Trung Quốc thành quốc qia đứng nhất thế giới, Trung Quốc sẽ dành chức Đế Quốc của Mỹ.
Sau khi Mỹ âm thầm giao Việt Nam cho Liên Xô (Việt Nam muốn đánh với Mỹ phải cần vũ khí Liên Xô,nên Việt Nam sẽ dựa hẳn vào Liên Xô ). Mỹ an tâm là Trung Quốc không thể chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc. Trung Quốc muốn chiếm Đông Nam Á thì phải chiếm Việt Nam trước đã, phải đánh nhau với Liên Xô ( Trung Quốc đánh với Liên Xô trên chiến trường Việt Nam năm 1979).
Mục đích của Mỹ đã đạt nên Mỹ rút đi năm 1973. chức Đế Quốc của Mỹ đứng nhất thế giới vẫn còn giữ được cho đến ngày nay.
F-35 của Mỹ đe dọa hệ thống phòng không S-300 của Nga
S-300 của Nga Tập đoàn Lockheed Martin của Mỹ cho biết vừa thiết kế máy bay tàng hình F-35 mới để tiêu diệt các hệ thống hoả tiển phòng không S-300 của Nga. Phó Chủ tịch điều hành Tập đoàn Lockheed Martin phụ trách chương trình chế tạo F-35 Tom Burbage cho biết, với việc tiếp nhận các máy bay F-35 mới, Israel sẽ không còn lo ngại việc đối phó với các hệ thống S-300 ở Iran và Syria nữa.Thử trình mô phỏng trên máy tính đã chứng minh rằng F-35 có thể đánh bại S-300.
Các thông số kỹ thuật của F-35 cho thấy đây là một thế hệ máy bay tàng hình vượt bậc, với chiều dài 15,37 m, sải cánh 10,65m. chiều cao 5,28 m, diện tích bề mặt cánh 42,7m², trọng lượng không tải 12.000kg và trọng lượng có tải là 20.100 kg. Tốc độ lớn nhất của F35 là 1,8 Mach (1.930 km một giờ), tầm bay tối đa 2.200km và bán kính hoạt động chiến đấu là 1.100 km. Động cơ ban đầu của F35 là Pratt & Whitney F135, lực đẩy 128 kN, lực đẩy khi có đốt sau là 191 kN. Ngoài ra, tập đoàn Lockheed Martin còn đang phát triển động cơ thế hệ sau, là động cơ General Electric/Rolls- Royce F136 có đốt sau, lực đẩy trên 178 kN.
Vũ khí mà F-35 được trang bị cũng hết sức tối tân, bao gồm 1 pháo GAU-12/U 25 mm, gắn trong thân F-35A với 180 quả đạn hoặc gắn bên ngoài cánh. Phiên bản F-35B và F-35C được trang bị 220 quả đạn. Bằng cách đánh đổi tính năng dễ phát hiện hơn bằng radar, F35 được trang bị hoả tiển , bom nhiều hơn và một thùng nhiên liệu phụ. Trong thân máy bay, tối đa có 4 hoả tiển đối không Tối đa có tất cả 4 đơn vị vũ khí cho mỗi khoang gồm: hoả tiển chống tăng Brimstone, Cluster Munitions (WCMD) và High Speed Anti-Radiation Missiles (HARM). hoả tiển đối không MBDA Meteor đang được cải biến để lắp vừa bên trong và có thể trang bị cho F-35. Vũ khí đối không có thể mang (cả trong và ngoài thân) gồm 12 hoả tiển AIM-120 và 2 hoả tiển AIM-9; hoặc 6 bom 900kg, 2 hoả tiển AIM-120 và 2 hoả tiển AIM-9. Trong khi đó, hệ thống S-300 của Nga (NATO gọi là SA -10 Grumble, SA-12 Giant/Gladiator, SA-20 Gargoyle) được xem là một trong những hệ thống hoả tiển phòng không hiện đại nhất trên thế giới. Hệ thống hoả tiển đất đối không tầm xa này có thể phòng thủ trước máy bay, hoả tiển hành trình và đạn đạo. Radar của hệ thống S-300 có thể theo dõi 100 mục tiêu và tiêu diệt 12 mục tiêu cùng lúc ở khoảng cách 200km và độ cao 27km so với mực nước biển.
Tuy thông tin Nga sẽ bán các hệ thống S-300 cho Iran đến nay chưa được kiểm chứng, nhưng nếu đạt được, thoả thuận này sẽ làm thay đổi cục diện ở Trung Đông. Có nhiều lý do để Iran trang bị hệ thống S-300 của Nga. Trước hết, Tehran có thể đe doạ quân đội Mỹ và đồng minh ở Afghanistan và Iraq, nếu triển khai các hệ thống này dọc biên giới Iran. Thứ hai, các hệ thống này sẽ tăng cường sự phòng thủ cho các lò phản ứng hạt nhân ở Bushehr mà Nga đã xây dựng. Cuối cùng, Tehran cũng có thể sử dụng các hệ thống S-300 để bảo vệ Nhà máy làm giàu urani Natanz. Một nước Iran sở hữu vũ khí hạt nhân có thể làm nổ ra một cuộc chay đua vũ khí trang trong khu vực, bởi Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và Ả rập Xê út sẽ không đứng yên một chỗ khi Tehran xây dựng kho vũ khí hạt nhân. Với hệ thống S-300, Iran có thể ngăn chặn các cuộc tiến công của Israel, nếu Israel không được trang bị các máy bay F-35 mới hoặc không thực hiện một đòn tiến công phủ đầu vào các hệ thống S-300 trước khi chúng hoàn toàn đi vào hoạt động. Các chuyên gia dự đoán rằng, nếu được chuyển giao, Iran sẽ phải mất 1năm để lắp đặt và vận hành các hệ thống S-300, trong khi giới công nghiệp quốc phòng dự đoán, F-35 khó có thể được trang bị cho Israel trước giai đoạn 2011 - 2013. xem video CLICK HERE | ||||||
Indonesia gửi thư đến TTK Liên Hiệp Quốc
22/07/2010
Phái Bộ Thường Trực của Cộng hòa Nam Dương
Tại Liên Hiệp Quốc
New York
Số 480/POL-703/ VII/10 BẢN DỊCH KHÔNG CHÍNH THỨC
Ngày 8 tháng 7, 2010
Kính gửi ngài Ban Ki-moon
Tổng thư Ký Liên Hiệp Quốc
Fax. 212-963-2155
Bản sao gửi:
Vụ Đại Dương và Luật Biển, Phòng Luật pháp- Liên Hiệp Quốc
(Division on Ocean Affairs and Law of the Sea-DOALOS, Office of Legal Affairs- United Nations)
Phái bộ Thường trực của Cộng hòa Nam Dương tại Liên Hiệp Quốc kính gửi lời chào trân trọng tới Ngài Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và xin Ngài lưu ý tới bản luân lưu của Phái bộ Thường trực của Cộng hòa nhân dân Trung Cộng số CML/17/2009 đề ngày 7 tháng Năm 2009, đặc biệt là bản đồ đính kèm diễn tả cái gọi là “quyền bất khả tranh cãi của Trung Cộng trên các hòn đảo tại biển Nam Hải cùng vùng biển quanh chúng, và quyền sở hữu và phán quyết trên vùng biển đó cũng như đáy biển và vùng đất dưới đáy biển”. Chúng tôi hân hạnh trình bày như sau:
1) Nam Dương không là một quốc gia tranh giành quyền sở hữu tại biển Nam Hải, và do đó, đã đóng một vai trò không bênh ai nhưng năng nổ trong việc tạo lập các biện pháp gây lòng tin giữa các quốc gia đòi chủ quyền và tạo lập một không khí hòa bình qua nhiều buổi làm việc về vấn đề biển Nam Hải từ năm 1990. Cụ thể cố gắng này đã trải đường cho việc chấp nhận “Tuyên ngôn về cách Hành xử của các bên về biển Nam Hải” (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea ) vào năm 2002;
2) Nam Dương cũng đã theo dõi sát sao các tranh luận về bản đồ trên mà nhiều người cũng gọi là “bản đồ của chín lằn chấm”. Cho tới nay chưa có một lời giải thích nào về căn bản pháp lý, phương pháp vẽ, và nguyên trạng của những lằn chấm rời rạc này. Hình như những lằn chấm rời rạc đó vẽ vùng biển quanh các các địa hình nhỏ trên mặt nước đang được tranh giành trong biển Nam Hải. Không kể tới ai làm chủ những địa hình đó, Nam Dương xin nhân cơ hội này lưu ý tới lập trường của Cộng hòa nhân dân Trung Cộng về các vấn đề liên quan tới vùng biển quanh các hòn đảo nhỏ và bãi đá trên biển, như đã chứng tỏ qua các tuyên bố sau:
a. Phát ngôn của ngài Đại sứ Chen Jinghua, Trưởng phái đoàn Cộng hòa nhân dân Trung Cộng tại Cuộc họp thứ 15 của Cơ quyền Quốc tế về Đáy Biển (Internaltional Seabed Authority-ISBA) tại Kingston, Jamaica tháng Sáu 2009, đặc biệt nhắc rằng “Tuyên bố sở hữu vùng kinh tế đặc quyền và vùng bờ đại lục lấy bãi đá […] làm địa điểm, gây những quan tâm quan trọng của Công ước và của cộng đồng quốc tế”. Ngài Đại sứ còn nhắc tiếp lời phát biểu của Đại sứ Arvid Prado của Malta là “nếu đặc quyền 200 dặm quanh các hòn đảo nhỏ không người ở được lập ra thì việc quản lý của quốc tế trên vùng biển ngoài pham vị phán xét của các quốc gia sẽ bị vô hiệu hóa nghiêm trọng”.
b. Phát ngôn của phái đoàn Trung Cộng tại hội nghị thứ19 của các Quốc gia thành viên của Luật Biển (State Parties on the Law of the Sea-SPLOS) họp ngày 22-26 tháng Sáu tại New York, khẳng định lại rằng “theo Điều 121 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea-UNCLOS), các bãi đá tự nó không giúp cho người có thể sinh sống hoặc có đời sống kinh tế sẽ không phải là vùng đặc quyền hoặc bờ đại lục”.
3) Theo chiều hướng đó, phát ngôn của các đại diện khả kính của Cộng hòa nhân dân Trung Cộng cũng áp dụng vào trường hợp ở biển Nam Hải và vì thế chỉ đương nhiên đúng đắn khi coi những điểm đất đá nhỏ xa xôi trong biển Nam Hải là không xứng đáng có vùng kinh tế đặc quyền hoặc bờ đại lục riêng của chúng. Cho phép dùng các bãi đá không người ở, bãi san hô và đảo san hô giữa đại dương biệt lập với đất liền làm điểm mốc để tạo lập sở hữu một vùng biển là gây quan ngại cho nguyên tắc căn bản của Công ước và xâm phạm tới quyền lợi chính đáng của cộng đồng quốc tế.
4) Vì thế, đúng như các phát ngôn đó (của Trung Quốc), cái gọi là “bản đồ của chín lằn chấm” trong văn bản luân lưu số CML/17/2009, rõ ràng là thiếu căn bản pháp lý quốc tế và hầu như làm xáo trộn UNCLOS 1982.
Phái bộ thường trực của Cộng hòa Nam Dương vinh dự yêu cầu ngài Tổng thư ký chuyển giao ghi chú này tới toàn thể các thành viên của Ủy ban giới hạn bờ Đại Lục (Commission on the Limits of the Continental Shelf—CLCS) và mọi quốc gia thành viên của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển cùng là toàn thể thành viên của Liên Hiệp Quốc.
Nhân dịp này Phái bộ thường trực của Cộng hòa Nam Dương xin một lần nữa gửi lòng trân trọng sâu đậm nhất tới Ngài Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc.
New York, 8 tháng 7, 2010
Phái bộ thường trực của nước Cộng hòa Nam Dương
KÝ TÊN và ĐÓNG DẤU
Phùng Liên Đoàn phỏng dịch
Nguyên văn:
Nhật Bản củng cố quan hệ quốc phòng với Việt Nam
Thứ Hai, 26 tháng 7 2010
Hình: Wikipedia Commons
Ngoại trưởng Nhật Bản Katsuya Okada
Tin liên hệ
Ngoại trưởng Nhật Bản Katsuya Okada và người đồng nhiệm Việt Nam Phạm Gia Khiêm hôm 24/7 đã đạt thỏa thuận tăng cường quan hệ an ninh giữa hai nước bằng cách mở rộng khuôn khổ đối thoại song phương giữa các giới chức quốc phòng và ngoại giao cấp cao đôi bên.
Hãng tin Kyodo dẫn lời một giới chức không nêu danh tính cho biết rằng nhân dịp tham dự hội nghị của ASEAN ở Hà Nội, ông Okada cũng trình bày về khả năng phát triển công nghệ sản xuất điện hạt nhân cũng như hệ thống đường sắt cao tốc của Nhật Bản sang Việt Nam.
Hãng tin này cho biết hai nước sẽ thiết lập một hệ thống đối thoại gọi là 2+2 nhằm tăng cường mối quan hệ đối tác song phương chiến lược với sự tham gia của các thứ trưởng và các giới chức quốc phòng cấp cao.
Theo Thông Tấn Xã Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản cũng đã ‘trao đổi ý kiến sâu rộng về quan hệ hai nước và các vấn đề khu vực và quốc tế hai bên cùng quan tâm’.
Theo nhận định của PanOrient News, cho dù chưa rõ nội dung cụ thể của mối quan hệ an ninh Việt Nam – Nhật Bản, ‘nhìn chung mối bang giao này được thiết lập nhằm tạo ra một thế cân bằng đối với Trung Quốc’.
Nhật Bản cũng từng thiết lập hệ thống 2+2 với Hoa Kỳ, Australia và Ấn Độ.
Hồi tháng Tư năm ngoái, Tokyo và Hà Nội đã đồng ý nâng cao hệ thống đối thoại ngoại giao và quốc phòng hiện có nhằm tăng cường quan hệ song phương.
Nguồn: Kyodo, PanOrient News
Hãng tin Kyodo dẫn lời một giới chức không nêu danh tính cho biết rằng nhân dịp tham dự hội nghị của ASEAN ở Hà Nội, ông Okada cũng trình bày về khả năng phát triển công nghệ sản xuất điện hạt nhân cũng như hệ thống đường sắt cao tốc của Nhật Bản sang Việt Nam.
Hãng tin này cho biết hai nước sẽ thiết lập một hệ thống đối thoại gọi là 2+2 nhằm tăng cường mối quan hệ đối tác song phương chiến lược với sự tham gia của các thứ trưởng và các giới chức quốc phòng cấp cao.
Theo Thông Tấn Xã Việt Nam, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam – Nhật Bản cũng đã ‘trao đổi ý kiến sâu rộng về quan hệ hai nước và các vấn đề khu vực và quốc tế hai bên cùng quan tâm’.
Theo nhận định của PanOrient News, cho dù chưa rõ nội dung cụ thể của mối quan hệ an ninh Việt Nam – Nhật Bản, ‘nhìn chung mối bang giao này được thiết lập nhằm tạo ra một thế cân bằng đối với Trung Quốc’.
Nhật Bản cũng từng thiết lập hệ thống 2+2 với Hoa Kỳ, Australia và Ấn Độ.
Hồi tháng Tư năm ngoái, Tokyo và Hà Nội đã đồng ý nâng cao hệ thống đối thoại ngoại giao và quốc phòng hiện có nhằm tăng cường quan hệ song phương.
Nguồn: Kyodo, PanOrient News
Hệ thống phi cơ không người lái
Phi cơ không người lái (gọi tắt trong tiếng Anh là UAV hay RPAS) được sử dụng trong các tình trạng được coi là khó khăn hoặc nhiều rủi ro cho phi công.
Phi cơ này chính là “con mắt trên bầu trời” trong 24 giờ mỗi ngày, bảy ngày trong tuần.
Mỗi phi cơ có thể bay không nghỉ 17 giờ liền, rà soát từng khu vực và gửi dữ liệu và hình ảnh tức thì về các hoạt động trên mặt đất.
Phi cơ được Không lực Hoa Kỳ và Không lực Hoàng Gia Anh có nhiều dạng, từ loại nhỏ, tình báo và trinh sát, kích cỡ nhẹ cho tới máy bay gián điệp cỡ lớn.
Hai loại phi cơ không người lái cỡ trung bình đang được sử dụng ở Afghanistan và Pakistan là Predator MQ-1B và MQ-9 Reaper.
Những phi cơ hình dạng lạ này được gắn nhiều bộ cảm ứng ở mũi phi cơ hình củ hành.
Các bộ phận này gồm camera màu và camera đen trắng, thiết bị phóng hình cỡ lớn, radar, tia hồng ngoại, và nhắm mục tiêu laser cũng như theo dõi khu vực thiếu ánh sáng.
Các phi cơ này cũng có thể được trang bị phi đạn có laser dẫn đường.
Mỗi hệ thống Predator hay Reaper nhiều triệu đô la bao gồm bốn phi cơ, một trạm kiểm soát mặt đất và một liên kết vệ tinh.
Trạm điều khiển dưới đất phân tích hình ảnh được gửi về qua vệ tinh.
Mặc dù trên thực tế phi cơ không có người lái nhưng có nhóm điều khiển dưới đất, phân tích hình ảnh được gửi về và hành động theo các diễn biến quan sát được.
Trạm điều khiển dưới đất có thể nằm tại ngay ở khu vực giao tranh hoặc cách xa hàng ngàn dặm.
Nhiều chuyến bay tại Afghanistan được điều khiển từ Căn cứ Không quân Creech tại Nevada, Hoa Kỳ - mặc dù khi cất cánh và hạ cánh luôn được điều khiển tại trạm kế đó.
Phi cơ Predator MQ-1B (trước đây gọi là RQ-1 Predator) ban đầu được chế tạo như máy bay để thu thập thông tin tình báo, giám sát, xác định mục tiêu và trinh sát.
Tuy nhiên, kể từ năm 2002 phi cơ này đã được trang bị hai hỏa tiễn Hellfire II, có nghĩa là có thể tấn công mục tiêu cách tới 8 km.
Trái lại loại phi cơ mới hơn MQ-9 Reaper được xem là hệ thống “săn lùng và tiêu diệt”.
Phi cơ này có thể mang bốn hỏa tiễn Hellfire và bom có laser dẫn đường như Paveway II và GBU-12.
Tốc độ của phi cơ này là 370 km/giờ, nhanh hơn nhiều so với tốc độ của Predator 270 km/giờ vì Predator có nhiều nguy cơ bị bắn rơi ở cao độ thấp - mặc dù phi cơ không người lái thường bay trong tầm bắn của các loại vũ khí mà Taliban kiếm được.
Quân đội Anh sử dụng nhiều máy bay điều khiển từ xa.
Họ dùng phi cơ không người lái Hermes 450 tại Iraq và Afghanistan cũng như phi cơ không người lái nhỏ hơn để giúp kiểm soát bom bên lề đường trước khi đi tuần tiễu.
Predator MQ-1B (trái) và MQ-9 Reaper
Trong năm 2011, Hermes 450 sẽ được biến cải lên thành Watchkeeper, phi cơ giống như Reaper, có thể gắn hỏa tiễn.
Không lực Hoàng gia Anh có bốn phi cơ Reaper có chỉ số kỹ thuật cao hơn, với trạm điều khiển đặt tại Căn cứ Không quân Creech tại Nevada.
Hai phi cơ nữa sẽ được đưa vào sử dụng vào năm 2010. Bộ Quốc phòng Anh đang xem xét việc đặt mua từ Chính phủ Hoa Kỳ thêm 5 phi cơ không người lái Reaper và bốn trạm điều khiển trên mặt đất.
Trong tháng bảy 2010, Bộ Quốc phòng Anh khai trương Taranis, phi cơ không người lái được chế tạo để có thể chống đỡ khi bị tấn công cũng như có thể thu thập thông tin tình báo, trinh thám và theo dõi nhiệm vụ tấn công của các phi cơ không người lái khác.
Trong những năm gần đây đã có việc tăng cường mạnh cho nghiên cứu và phát triển phi cơ không người lái, dẫn tới việc người ta dự đoán về "các cuộc chiến robot”.
Subscribe to:
Posts (Atom)





