Wednesday, November 10, 2010

VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU MỚI .


VIỆT NAM : MỘT BE BỜ CỦA HOA KỲ, TRONG CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU MỚI .
                                                    MƯỜNG GIANG 
            Trong bài diễn văn đọc tại trường Ðại học Georgetown ngày 18-1-2006, Ngoại trưởng Condi Rice đã tuyên bố là Hoa Kỳ đang thay đổi chiến lược toàn cầu, trong đó dồn hết tài nguyên lực lượng và căn cứ quân sự từ Âu Châu, để chuyển về các điểm nóng Phi Châu, Nam Mỹ, Trung Ðông và quan trọng nhất là vùng Ðông Nam Á. Dịp này Mỹ cũng không cần dấu diếm mà công khai gọi Trung Cộng là đe dọa của mình trong thế kỷ XXI, sau khi Liên Xô sụp đổ .Ðể duy trì thế đứng siêu cường số một trong trật tự thế giới mới, lần này người Mỹ không muốn đơn thân độc mả, mà kêu gọi sự hợp tác của các nước liên quan trong vùng, những nước đang là nạn nhân của đế quốc Tàu đỏ trong dã tâm thống trị và cưởng đoạt Biển Ðông.
            Việt Nam ngày nay tuy được xếp vào một nước lớn vì có dân số đông đảo, quân đội đầy kinh nghiệm chiến đâu bao đời. Tuy nhiên theo các nhà quân sử, thì VN đã mất hết thế đứng trong trật tự thê giới mới ngày nay, vì được lãnh đạo bởi Ðảng Cộng Sản Ðệ Tam Quốc tế (ÐCSÐTQT), mang bản chất làm nô lệ tay sai cho ngoại bang và các thế lực tư bản, miễn sao có đầy túi đô la và giữ yên chiếc ngai vàng. Nhưng đây cũng là tử lộ của VC, vì theo Mỹ “ để được bợ lưng, thì phải chống lại Trung Cộng hoặc ngược lại “ đường nào cũng sẽ biến đất nước ta thành một bãi chiến trường đẳm máu khi có chiến tranh thực sự., trong cái gọi là “ sứ mạng tiền đồn chống Cộng ngày trước, hay đối tác quân sự giữa các siêu cường ngày nay “. 
            Thật sự VC ngày nay đâu có khả năng về quân sự, nhất là lực lượng Hải Quân để mà bảo vệ lãnh thổ, lảnh hải và mạng sống của đồng bào mình. Trong lúc các nưóc láng giềng từ Trung Cộng, Nhật Bổn, Nam Bắc Hàn, Ðài Loan, Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương,Thái Lan.. không ngừng canh tân quân đội để bảo vệ Tổ Quốc họ. Trái lại suốt 35 năm qua, VC chỉ tăng cường lực lượng công an, kỷ thuật tra tấn, chụp mũ.. để khủng bố đồng bào, tham nhũng tài sản công khố làm lũng đoạn kinh tế quốc gia và trên hết chỉ biết quì lạy đầu hàng kẻ mạnh, để giữ đảng, khiến cho quốc thể bị chà đạp xấu nhục, quân đội quốc phòng, chính trị, phong hóa cả nước càng lúc càng lùi dần về thời đồ đá cả mấy trăm năm trước. 
            Tuy cựu bộ trưởng quốc phòng thời TT W.Bush là Rumsfeld, chỉ nói với VC là Mỹ muốn quan hệ hai nước tiến triển theo “ MỘT CHIỀU HUỚNG “ có lợi cả hai, đồng thời được dễ dàng thoải mái. Nhưng VN ngày nay dưới chế độ CS, tuy mang tiếng là quốc gia độc lập nhưng thực chất vẫn là chư hậu của Trung Cộng không hơn không kém, giá trị chỉ ngang tầm với một tỉnh của Tàu đỏ. Vậy bằng cách nào, đảng hành xử để giữ sự cân bằng khi cùng lúc đang đi giây giữa hai thế lực ?. Nói chung, hai nước chỉ mới đạt một số thỏa thuận không quan trọng về quân sự, tuy trong thâm tâm VC muốn ký kết thêm với Hoa Kỳ nhiều lãnh vực quan trọng hơn, bất chấp sự thù nghịch khiêu khích đối với Trung Cộng, dẫn tới một cuộc chiến như trong quá khứ, mà không thể nào tranh được. 
            Trong bài báo của nhóm nghiên cứu đăng trên tạp chí The Economist, cho biết Trung Cộng luôn chống lại việc bốn chư hầu VC, Lào Cộng, Miên Cộng và Miến Ðiện, ngả quá sâu về phía Mỹ. Nói chung mối quan tâm của Tàu đỏ với VN,càng ngày càng tập trung vào quân sự chứ không phải kinh tế. Nhờ nó mà Trung Cộng đã nghiểm nhiên trở thành chủ nhân ông trong vịnh Bắc Việt, quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, miền Thượng Du Bắc Việt, Cao Nguyên Trung Phần và gần hết thành phố, tịnh lỵ, thị trấn của VN qua bình phong “ hợp tác thương mại, phát triển kinh tế giữa hai nước theo lộ trình 16 chữ vàng “.Tại Miến Ðiện, người Tàu được khai thác trọn khu rừng gổ tếch ở phía Bắc, nguồn dự trử khí đốt ở biển Andaman và vịnh Bengal. Một cuốn sách nhan đề ‘ Showdown : Why China Wants War with the United States ‘ của Jed Babbin và Edward phát hành ngày 22-5-2006, có đề cập tới việc Mỹ cần phải cho VN gia nhập Liên Minh Quân Sự để chống lại sự bánh trướng xâm lăng của Trung Cộng. Cho nên khi Rumsfeld nói là VN phải tự bảo vệ vùng biển của mình,không ngoài mục đích trên. 
            Và chiến lược coi VN như một be bờ của Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, đã được Mỹ công khai hoá qua những lời tuyên bố của bà Clinton, ngoại trưởng thời TT Obama từ tháng 1-2009 tới nay, theo đúng chính sách ngoại giao do hai đảng Dân Chủ & Cộng Hoà vạch ra. Theo đó Hoa Kỳ sẽ trở lại Ðông Nam Á và Biển Ðông, để cùng hợp tác với các quốc gia trong vùng, chống lại chủ nghĩa đế quốc của Tàu đó trong dã tâm cưởng chiếm toàn vẹn biển Thái Bình. 
            Ngày nay qua núi sử liệu trong và ngoài nước đã bật mí, ta mới biết được VC ngoài miệng lúc nào cũng nói chống Mỹ, Tây Phương, Nhật, Tư Bản nhưng trong tận cùng tim óc lại rất thèm thuồng sự bang giao với họ, nhất là kẻ thù không đội trời chung Hoa Kỳ. Bởi vậy, khi Sài Gòn bị cưởng chiếm trưa 30-4-1975, thì chỉ hai tháng sau, VC đã trân trọng mời hai ngân hàng lớn của Mỹ trở lại VN, để bàn thảo phát triển kinh tế và thương mại. Riêng với dân chúng Hoa Kỳ, từ sau cuộc chiến Ðông Dường lần 2 kết thúc, càng mệt mõi thất vọng vì sự tháo chạy nhục nhả của quân đội Mỹ tại VN, cộng thêm vụ Watergate. Vì vậy họ đã bầu Jimmy Carter, xuất thân đại điền chủ trồng đậu phụng ở miền Nam, thuộc đảng Dân Chủ, làm tổng thống. Là một người thâm trầm và nham hiểm, nên Carter đã sử dụng chiến thuật “ cây gay và củ cà rốt “ cố hữu đẻ hy vọng xóa bỏ hội chứng VN trong lòng người Mỹ. Ðó là thiết lập ngoại giao cũng như bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. 
            Nhưng thiện chí đầy nhân bản và tốt đẹp trên của TT Carter, đã làm cho bọn chóp bu tại Bắc Bộ Phủ hiểu lầm và tăng thêm lòng kiêu căng phách lối trong những bộ óc đặc sệt chũ nghĩa, là Mỹ đã gục ngã trước chiến thắng thần thánh siêu nhân của các đỉnh cao, cùng với sự ưu việt của chũ nghĩa xã hội, qua ba dòng thác cách mạng, đã đánh gục ba đại cường Pháp-Nhật-Mỹ, khiến cho tư bản giẫy chết. Bởi vậy Hà Nội cần gì liên hệ với tên đầu sỏ tư bản là Mỹ, đang cầu cạnh tới làm quen. 
             Chính sự chủ quan thiển cận đó, đã làm cho Mỹ quay mặt với VN và quyết tâm kết thân với TC, đẩy Hà Nội vào con đường mạt rệp, phải chạy theo Liên Xô, gây nên cuộc chiến long trời lở đất, giữa Hoa-Việt tại biên giới hai nước vào tháng 2-1979. Kết quả 5 tỉnh thượng du Bắc Việt bị giặc Tàu tàn phá bằng bom đạn, thành những đống gạch vụn, nhiều đồng bào và bộ đội thương vong thảm thiết. Kinh hoàng nhất là cả nước từ Nam ra Bắc, đắm chìm trong ngục tù thù hận, địa ngục đói nghèo, hơn 10 năm dài vì bị cả loài người quay lưng nguyền rũa, khi đối mặt với hàng triệu thuyền nhân VN, liều chết bỏ quê hương ra biển tìm tự do trong nổi chết chực chờ.
            Thế là trận mưa đô la Mỹ sẽ vĩnh viển chẳng bao giờ đổ xuống cung đình Hà Nội như lòng ham muốn vô đáy của các chóp bu luôn bệnh hoạn tưởng tượng. Nhưng vốn là những kẻ lì lợm tráo trở, nên vừa thua me đã vội bày bài cào để gở, bằng cách dùng những bộ xương khô của lính Mỹ mất tích trong cuộc chiến vừa qua, để làm mồi câu cá mập. Ðồng thời còn hứa hẹn sẽ trao cho Hoa Kỳ tất cả những tin tức và dử kiện về xác Mỹ càng sớm càng tốt, nếu có tiền bồi thường chiến tranh. 
             Sau này qua các tài liệu mật được công bố, cho biết lúc đó Carter rất chú trọng tới VN, vì các tiềm lực tài nguyên thiên nhiên, trong đó có dầu hỏa đước phát hiện ngoài thềm lục địa VNCH, từ trước tháng 4-1975. Riêng đối với bọn tài phiệt tư bản, phần lớn là chủ ngân hàng, hảng xe, các cơ sở thương mại, hảng dầu của Hoa Kỳ.. thì mờ mắt trước lời rao hàng của VC về lao động rẽ, tài nguyên nhiều.. nên gây áp lực Chính Phủ bãi bỏ lệnh giao thương với VC, vì sợ các món hàng “ buôn người “ hiếm quí trên lọt vào tay tư bản Nhật và Âu Châu.Do trên, Carter vào tháng 5-1977, đã chấp thuận giúp VC nhiều vấn đề, từ ngân khoản 5 triệu mỹ kim nhân đạo, cho tới sự đồng tình với Liên Hiệp Quốc, qua chương trình cho vay tiền phát triển VN. 
            Vào tháng 1-1985 gần đúng 10 năm người Mỹ tháo chạy nhục nhã tại Nam Vang và Sài Gòn trong tháng 4-1975, Hoa Kỳ được các nước Ðông Nam Á, mời gọi trở lại vùng này, nói là nhờ đóng vai trò xây dựng nhưng mặt thật giúp họ, ngăn chận sự bành trướng của Nga lẩn Tàu. Ðây cũng là thời điểm, đánh dấu nổ lực mới của Việt Cộng, trong sự mời gọi Hoa Kỳ trở lại VN, trước tiên bằng các phái đoàn tìm kiếm xương khô lính Mỹ mất tích. Rồi giấc mộng vàng, chính thức trở thành sự thật vào tháng 4-1991, qua TT.G.Bush ‘ Bải bỏ lệnh cấm vận VN ‘, kế tiếp TT.Bill Clinton ‘ Bình Thường Quan Hệ Ngoại Giao’ giữa hai nước vào năm 1995 và ký ‘ Hiệp ước Thương Mại Song Phuơng Việt-Mỹ’’năm 2001. Cuối cùng mới có cuộc thăm viếng Hoa Kỳ của Thủ Tướng VC Phan Văn Khải, từ ngày 19-6-2005 tới 25-6-2005, nói là tới nhờ Mỹ giúp vào WTO, nhưng mặt thật sang để cam kết làm hết những điều khoản để trả ơn Hoa Kỳ, về những ân huệ đã ban phát.

+ HIỆP ÐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT-MỸ :CON DAO HAI LƯỞI XIẾT HỌNG VC : 
            Hoa Kỳ là một thị trường lớn, dù trong hoàn cảnh nào cũng vẫn có sức tiêu thụ và thu hút hơn 1/4 số lượng hàng hóa xuất cảng của thế giới. Bởi vậy Mỹ là điểm thu hút, chẳng những của các nước Tây Phương, Nhật, Nam Hàn, Ấn Ðộ, Ðài Loan.. mà với các nước cọng sản thù nghịch, tử Nga tới Trung Cộng và VC.. tuy miệng lúc nào cũng bài bác nhưng luôn luôn tìm đủ trăm phương ngàn kế, để được kết thân giao hảo. 
            VN xã nghĩa bắt đầu mở cửa đổi mới, đón tư bản và Tàu trắng đỏ vào nước cứu đảng từ năm 1988. Chính Bill Clinton đảng dân chủ, trong hai nhiệm kỳ tổng thống Mỹ (1992-2000), đã liên tục bãi bỏ lệnh cấm vận (1993), bình thường hóa bang giao hai nước (1995). Tháng 11-1997, Mỹ và VC đã ký kết sơ khởi, một hiệp ước liên quan tới hoạt động của tập đoàn đầu tư hải ngoại, viết tắt là OPIC (Oversear Private Investment Corporation ). 
             Ðây là bước khởi đầu rất quan trọng, như các điều kiện phải có, để tiến tới việc ký hiệp định thương mại, nhằm bình thường hóa toàn bộ các quan hệ buôn bán giữa hai nước. Ðối với các doanh nhân Mỹ làm ăn tại nước ngoài, OPIC có giá trị như một loại bảo hiểm rũi ro cũng như là lời cam kết khi thực hiện các hợp đồng. Riêng Clinton sau khi thoát được sự luận tội của Tối Cao Pháp Viện Mỹ, cũng là lúc sắp mãn nhiệm kỳ vào ngày 20-1-2001, đã cùng vợ con sang du hí tại VN. 
            Hành động hái nho trái mùa của một tổng thống Mỹ mang nhiều tai tiếng nhất, được báo chí Hoa Kỳ thời đó đề cập bằng những danh từ trào phúng mai mĩa, chẳng hạn như ‘ A lame-duck ‘ qua nghĩa đen ‘ Literal meaning, sense ố vịt què ‘, để hiểu theo nghĩa bóng ‘ Figurative meaning, sense ‘.Việc làm trên thật sự chẳng có gì để được ca tụng là mang tính cách lịch sử (Historic) nhưng như tạp chí Newsweek bình luận ngày 27-11-2000 ‘sau này khi về hưu, Clinton chắc tự hào lắm, vì là tổng thống Mỹ đầu tiên tới thăm kẻ thù VC ‘. 
            Năm 2002 khởi đầu việc thực hiện Hiệp Ước Thương Mại Việt-Mỹ, nhưng nền kinh tế xã nghĩa đã không đạt được sự tăng trưởng theo chỉ tiêu đề ra từ 7-7,3%. Nói như Bộ trưởng Kế Hoạch Ðầu Tư VC Trần Xuân Giá , thì đây là điềm xấu báo trước cho cả năm. Ðáng báo động là kim ngạch xuất khẩu cũng giảm mạnh, tới 12% so với năm 2001. Tình trạng suy thoái kinh tế này cũng đâu có khác gì năm 1991 mà VC phải hứng chịu, qua tác động nặng nề vì sự sụp đổ của Liên Xô. 
             Nói chung tất cả các mặt hàng xuất cang của VN, từ nông sản, tôm cá cho tới hàng may mặc.. đều bị các thị trường Mỹ, Nhật, Tây Âu.. lưu ý chẳng những vì phẩm lượng yếu kém, mà quan trọng nhất là giá cả buôn bán bừa bãi, chỉ với mục đích cạnh tranh bất chính, chỉ muốn bán được thật nhiều hàng mà thôi. Ngoài ra không cần phải để ý tới quốc thể và uy tín, là hai điều kiện tiên quyết trong việc giao dịch buôn bàn lâu dài. Ðây cũng là hậu quả tất yếu của một nền kinh tế nửa nạc nửa mở, được gọi là tư bản định hướng theo xã hội chủ nghĩa. Thực trạng kinh tế trong nước như vậy, mà đảng chẳng lo cải tổ, lại cứ nhắm mắt tiến bừa trên lộ trình HỘI NHẬP vào KHU VỰC TỰ DO MẬU DỊCH ASEAN (AFTA), thi hành HIỆP ÐINH THƯƠNG MẠI VIỆT-MỸ, đồng thời chuẩn bị các vòng ÐÀM PHÁN gia nhập TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI. 
            Ngày 1-1-2002, hai nước VN và Hoa Kỳ chính thức thi hành Hiệp Ðịnh Thương Mại Song Phương và sau hai tháng, cho thấy về phía VN, hàng hóa xuất cảng sang Mỹ chỉ có 0,05% giá trị trong tổng số nhập cảng. Giữa lúc đó thì hàng hàng lớp tư bản Mỹ, mà trong số này có rất nhiều doanh nhân Việt Kiều, kéo vào nước ta làm ăn buôn bán đầu tiên là Hiệp Hội May Mặc và Giày Da Hoa Kỳ. Cuối tháng 1-2002, Phụ Tá Bộ Trưởng Thương Mại Mỹ là William Lash thân hành sang Hà Nội, bàn thảo về những luật lệ điều khoản mà hai phía cùng ký, đồng thời xem xét việc giúp VN các kỹ thuật. Nhờ Hoa Kỳ bợ lưng, nên Xã Nghĩa đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư của Châu Á cũng như Tây Phương, nhảy vào bỏ vốn làm ăn, giúp cho nghành Dệt May của nước ta phát triển manh. 
             Tóm lại nếu được thi hành một cách nghiêm chỉnh, Hiệp Ðịnh Thương Mại là thời cơ để VN cải tổ lại nên kinh tế còn yếu kém vì nạn tham nhũng, cũng như sửa đổi lại nền hành chánh quan liêu lỗi thời và trên hết là biết xử dụng CÔNG PHÁP QUỐC TẾ, chứ không phải là xài LUẬT RỪNG, trong lúc đã chấp nhận làm ăn chung, tuyệt đối phải CÔNG BẰNG SÒNG PHẲNG theo luật định. Tuy nhiên vẫn còn quá nhiều tuyên truyền bôi bác, rằng ký Hiệp Ðịnh Thương Mại, chắc chắn trong tương lai, VN sẽ bị lệ thuộc vào nền kinh tế Mỹ, dù thực sự đây mới chính là bước đầu rất quan trọng, để VN được thu nhận vào Tổ Chức Thương Mai Quốc Tế (WTO) sau này. 
            Hiệp Ðịnh Thương Mại Song Phương (Bilateral Trade Agreement ố BTA), được VC và Hoa Kỳ, ký kết tại Hoa Thuận Ðốn ngày 13-7-2000 (thời Bill Clinton). Nhìn chung, đây là một văn bản rất chi tiết (detailed) và vô cùng phức tạp (complicated), qua 7 chương chính (chapter) và 9 phụ lục (annexe). Ngoài ra trong văn bản (BTA), có kèm theo mục Ðịnh Nghĩa (Definition), nói rõ nhiệm vụ Các Bên (Parties-Dành chung hai nước) và Bên (Party ốChỉ riêng từng quốc gia). 
             Ngay từ Chương Ðầu nói về Thương Mại Hàng Hóa, đã đề cập ngay tại Ðiều 1 ố Về Quy Chế Tối Huệ Quốc (Most Favored Nation ố MFN), còn được gọi là Quan Hệ Thương Mai Bình thường. mà hai nước đã cam kết khi ký văn bản, là phải lập tức thi hành vô điều kiện. Nhưng quan trọng nhất là ở Chương II, điều 2 có nói tới Quyền Sở Hửu Trí Tuệ (Intellectual property rights), rất chi tiết, bao gồm Quyền Tác Giả (Copyright), Quyền Liên Quan (Related right), Nhãn Hiệu Hàng Hóa (Trademarks), Bằng Sáng Chế (Patents).. Trong lúc VN Xã Nghĩa và Trung Cộng, hiện nay đang đứng đầu thế giới về tội xâm phạm Quyền Sở HửuTrí Tuệ của Nhân Loại, trong đó làm thiệt hại nhiều nhất cho Ðại Công Ty Microsolf của tỷ phú Mỹ Bill Gate. 
            Chính những điều khoản liên quan tới “ NGƯỜI CÓ QUYỀN (Right Holder)” bao gồm Thế Nhân hoặc Pháp Nhân, là người duy nhất có quyền cấp độc quyền sáng chế (Exclusive Lisensee), trước Pháp Lý và Công Ước Quốc Tế (International Convention), là một trong những điều còn lại, là những con dao hai lưởi đã gây không biết bao nhiêu phiền phức cho cả Trung Cộng lẫn VN, trong việc buôn bán gian lận đã bọ phát hiện và tố cáo hằng ngày.

+ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) : 
            Tổ chức thương mại quốc tế hay Chợ Toàn Cầu, là một tổ chức mang tính đa quốc gia, với nhiều hệ thống thương mại, nhằm mục đích cải thiện môi trường đầu tư, nhằm tạo phúc lợi cho dân chúng, thúc đẩy phát triển kinh tế các nước thành viên, bằng cách mở cửa thị trường, để cùng cạnh tranh làm ăn trong qui định của luật pháp. 
            Nói chung WTO là sự tiếp nối của Thỏa Ứớc Tổng Quát về Quan Thuế và Thương Mại (GATT), ra đời từ năm 1947 nhằm khuyến khích tự do mậu dịch, bãi bỏ chế độ hạn ngạch trong sự hợp tác thương mại quốc tế. Tháng 4-1994 các nước thành viên của GATT họp tại Marrakesh và ngày 1-1-1995 tổ chức thương mai thế giới, chính thức ra đời, đặt trụ sở tại Genève (Thụy Sĩ), với 120 quốc gia thành viên. Hiện VN đã được thu nhập vào tổ chức này, sau khi trở thành một quan sát viên, trong cuộc hội nghị cấp bộ trưởng của WTO vào năm 1996.. Vào tổ chức này, ngoài việc các thành viên phải dành qui chế tối huệ quốc cho nhau, cũng như không được phân biệt để đối xử giữa hàng hóa ngoại nhập và trong nước, về phương diện thuế quan và luật pháp. 
            Mang tiếng là thành viên của WTO nhưng trong tổ chức thương mại quốc tế này, vẫn chia thành ba nhóm rõ rệt, với khoảng cách (GAP) về trình độ của các thành viên thuộc nhóm Phát Triển (Developed countries), Ðang Phát triển (Developing ) và Kém Phát Triển (Lesser-developed). Chính vì vậy nên trong nội bộ luôn xãy ra những tình huống rất bất công, mà Mỹ ốNhật và các nước Âu Châu trong nhóm một (Phát Triển), thường bày ra các luật lệ, như một thứ công cụ, để che đậy chính sách bảo hộ của mình. Do trên một số quốc gia Ðang Phát triển, đã manh dạn tố cáo Mỹ ‘BẮT NẠT HỌ ‘ (Bully), làm tổn thương đến tính chất công bằng và độc lập của WTO. Chẳng những thế, các nước còn quan niệm là Tổ Chức Thương Maị Quốc Tế, chỉ ưu tiên đáp ứng nhu cầu của Hoa Thịnh Ðốn mà thôi, giống như thực trạng hiện nay của các Tổ Chức Quốc Tế IMF (Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế ) và WB (Ngân Hàng Thế Giới). 
            Trung Cộng từ ngày mở cửa trãi thảm đón Nixon-Kissinger năm 1972 nhưng mãi tới 15 năm sau, mới đạt được Hiệp Ðịnh Song Phương với Mỹ và sau đó được hội nhập vào WTO năm 2001. Là một nước lớn với 731 triệu lao động, có giá rẽ mạt so với bất cứ nước nào, như là một điều kiện tiên quyết thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất trong khu vực (39%). Lợi điểm này càng tăng nhiều lần, khi TC là thành viên của WTO, có điều kiện mở rộng hoạt động thương mại toàn cầu, mà VN là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất. 
            Xưa nay hai nước Việt-Hoa, ngoài vấn đề có chung biên giới dài, còn có nhiều điểm tương đồng về hàng xuất cảng, nhất là sau thời kỳ hai nước mở cửa, để hội nhập vào thế giới tư bản. Tuy nhiên hàng hóa của hai nước, có tương đồng về sản phẩm như hàng may mặc, nông thủy sản.. nhưng khác biệt về cơ cấu sản xuất. Trung Cộng với đất rộng, lao động rẽ, vốn nhiều.. nên cùng một món hàng, lại có giá thành rẽ hơn hàng VN nhiều lần. Hơn nửa, TC đang là thanh viên của WTO, nên hàng VN không làm sao cạnh tranh nổi, dù phẩm chất hàng hóa VN rất tốt và an toàn vệ sinh hơn hàng TC. Một ảnh hưởng khác cũng không kém phần quan trọng đối với VN, là dù hứa hẹn để được vào WTO nhưng đến nay, TC vẫn cứ thả nổi tỷ giá của Ðồng Nhân Dân Tệ, nay lại trở thành đồng tiền trao đổi tự do, đối với các loại kim ngạch khác của thế giới, trong đó có đồng đo la Mỹ. 
            Từ năm 2001 tới nay, VN và Trung Cộng được đánh giá là hai nước phát triển kinh tế nhất vùng Ðông Nam Á. Cho dù vậy VN cũng cần phải 1-2 thập niên mới chỉ theo kịp Thái Lan, nếu trong nước bài trừ được tham nhũng. Gia nhập WTO sẽ giúp VN thoát được nền kinh tế lạc hậu hiện nay với điều kiện VC phải hủy bỏ hay cải tổ nền kinh tế định hướng bao cấp xã hội chủ nghĩa, cùng nền chính trị độc đảng độc tài, nền hành chánh kịch cởm quan liêu và sự chỉ huy tập quyền trong tay một nhóm đảng viên cao cấp tại Bắc Bộ Phủ. Những điều kiện nêu trên, đồng thời cũng là cửa tử xô ngả chế độ đương thời. Như vậy ai dám bảo đảm Ðảng CS thực thi đứng đắn ? cho dù người Mỹ có đứng bên cạnh để quan sát, sửa sai . 
            Như các lần ký kết bí mật với Trung Cộng,để nhượng đất bán biển cho kẻ thù. Lần này VC cũng bí mật nhượng bộ lớn lao quyền lợi của đồng bào, để Mỹ chấp thuận cho vào WTO. Theo đó, tất cả các sản phẩm nhập cảng của Hoa Ky, từ dụng cụ xây cất, dược phẩm , hàng không, nông phẩm vào VN, được VC miễn hay đánh thuế tối đa là 15%. Ngược lại hàng VN vào Mỹ phải được kiểm phẩm theo qui định của WTO, do chính Mỹ giám sát . Với các dịch vụ viễn thông, năng lượng, ngân hàng.. Mỹ cũng đòi VN phải mở rộng để được cạnh tranh và dùng luật lệ của WTO giải quyết tất cả tranh chấp nếu có. 
            Tóm lại VN dù có gia nhập WTO thì cũng chẳng có lợi lộc gì , vì xã nghĩa tới nay vẫn còn theo đuổi một nền kinh tế, trong đó quốc doanh chiếm phần lớn. Do trên hàng hóa xuất cảng của VN không thể cạnh tranh nổi với hàng Trung Cộng. Ngoài ra khi vào WTO, VN sẽ được gắn nhản hiệu định danh kinh tế phi thị trường,kéo dài 12 năm. Việc này, chỉ tạo điều kiện cho các thành viên khác, kể cả Mỹ dễ dàng hơn trong việc chống phá giá các hàng bản địa của VN,như tôm đông lạnh, cá fish, hàng may mặc, giầy dép khi xuất cảng.. Trước tình cảnh này, khiến tổ chức Oxfam của Anh Quốc cũng chỉ trích là người Mỹ đã lợi dụng bốc lột các nước nghèo như VN khi xin gia nhập WTO. Trong lúc đó hầu hết dư luận trong ngoài nước đều có chung nhận xét là VC quá sai lầm và làm mất thể diện của dân tộc , khi chấp nhận bãi bỏ công cuộc đầu tư ngành dệt may của nước ta, để được Mỹ cho vào WTO. 
            Trong lúc VC hồ hởi chấp nhận từ điều kiện này tới nhượng bộ khác, chỉ mong Mỹ cấp qui chế bình thường vĩnh viễn, cũng như xóa tên trong danh sách các nước vi phạm nhân quyề, để được vào WTO. Sự kiện này chỉ có lợi cho Ðảng cầm quyền nhưng khiến cho đồng bào nghèo cả nước chịu thiệt thòi quá lớn vì sự chèn ép của Mỹ., trên phương diện giao thương bình đẳng giữa hai nước. 
            Ngày 4-6-2006, viện lý do có lời mời của Bộ trưởng QP VC là Phạm Văn Trà, nên Bộ trưởng QP Mỹ Donald Rumsfiel, đã tới VN ba ngày. Sự hiện diện của Rumsfiel tại Hà Nội, được dư luận thế giới bàn tán sôi nổi, trong đó có ý kiến cho là đã đến lúc người Mỹ muốn lôi kéo VC vào trong liên minh quân sự để chống lại ý đồ bá quyền của Trung Cộng trong vùng và trên biển Ðông. Ðây là bước thứ ba trong quan hệ giữa hai nước, sau khi đã đạt được bình thường hóa quan hệ ngoại giao và thương mại. 
            Sự kiện trên làm cho Bắc Bộ Phủ chới với, vì không thể cùng lúc chơi trò đu giây giữa anh lớn Trung Cộng và tư bản Hoa Kỳ. Cái khổ sở của Hà Nội hiện nay, vẫn là nổi sợ cho Mỹ vào, trong nước sẽ nổi lên các phong trào đòi dân chủ, tự do và đa đảng. Ðây mới chính là lối thoát để nước ta tránh được sự đồng hóa của Trung Cộng đang âm thầm tiếp diễn hằng ngày, khi biên giới giữa hai nước Việt-Trung bị bỏ ngỏ. Có Mỹ hiện diện, Trung Cộng sẽ không còn độc quyền thao túng Ðảng VC. Biết vậy nhưng VC đâu dám ra mặt phản thùng thiên triều. 
            Tuy nhiên VC xưa nay nói một đàng làm một nẽo, nhất là lúc này cán bộ đảng từ trên xuống dưới đều thích đồng đô la Mỹ. Cho nên dù không muốn chọc giận Bắc Kinh, cũng không có nghĩa là VN phải đứng vòng ngoài, trong tình hình hổn độn hiện nay, đến nổi Hoa Kỳ phải tái phối trí lực lượng suốt biển Thái Bình Dương, từ Bắc Á tới Ấn Ðộ Dương, mà hầu hết các nước trong vùng đều phải dựa vào Mỹ đê được che chở phòng thủ đất nước mình. 
            Nên dù Rumsfiel chỉ khuyên VN phải tự mình lo phòng thủ vùng biển nước mình, như một nhắn nhe lựa chọn, khiến cho Hà Nội khó mà cưởng lại xu thế chiến lược toàn cầu mới,nghĩa là chỉ có quyền chọn một, chứ không chơi trò đu giây để hưởng lợi như từng làm với Tàu và Nga . 
            Tháng 5-2005 dân Pháp đã tẩy chay ý kiến của Tổng thống Chirac trong cuộc trưng cầu dân ý về việc soạn thảo Hiến Pháp Liên Âu. Sự kiện lịch sử trên làm cho chúng ta chạnh nghĩ tới đất nước, chẳng biết bao giờ đồng bào mới cùng đứng dậy phản kháng tất cả những bất công tủi nhục mà đảng VC đang thao túng khi nắm được quyền trong tay. Những tội lỗi thiên cổ mà bất cứ một người VN nào dù sống trong và ngoài nước, cũng chẳng bao giờ dám làm như “ công khai bán nước, toa rập cướp bốc tài sản quốc gia (vụ nhà máy lọc dầu Dung Quất, vụ hảng đóng tàu, vụ bùn đỏ Cao Bằng, vụ khai thác bauxite Tây Nguyên..”. Ðó là chưa nói tới những thãm trạng đảng cướp của giết người, khủng bố dân lành .. mà điển hình nhất là vụ “ cưởng bức ông Cù Huy Hà Vũ, một nhà đấu tranh chống bạo quyền VC quyết liệt nhất hiện nay tại VN. 
            Có như vậy VN mới còn hy vọng thoát được thảm kịch chiến tranh sắp tới, cho dù có ở trong chiến tuyến nào. Chỉ mong vào được WTO để lên mặt với cả nước, VC đã hy sinh bao nhiêu quyền lợi của đồng bào. Chỉ muốn làm dáng với thế giới và dân đen, VC đã tiêu phí gần 5 tỉ đô la Mỹ để tổ chức 1000 năm Thăng Long, bỏ mặc cho hàng vạn đồng bào tại Trung Phần “ chết sống mặc bay “ trong suốt thời gian bão lụt. 
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di Tháng 11-2010
MƯỜNG GIANG        

Thursday, September 2, 2010

Mỹ sẽ bán đứng Việt Nam tại Biển Đông?


Những diễn biến ngọai giao gần đây đã gây ra một luồng dư luận sôi nổi là phải chăng Mỹ đang muốn liên minh với Việt Nam để đối phó với một nước Trung Hoa đang mưu đồ bá quyền, mà trường hợp trước mắt là những lấn ép lãnh hải tại Biển Đông?
Có ý kiến cho rằng Việt Nam nên nắm lấy cơ hội nghìn năm một thuở này mà duy tân như nước Nhật đã từng làm.
Dĩ nhiên là, trong một bàn cờ rối như ở Biển Đông thì có một nước cờ mà đi cũng là một niềm vui, dù cho rằng tòan thể thế cờ hình như vẫn còn là một thế kẹt.
Nhưng câu hỏi được đặt ra là, đây có phải là khởi đầu của một thế cờ mới chăng?
Biển Đông là một bàn cờ có nhiều tay chơi cho nên diễn biến ra sao còn tùy thuộc vào não trạng của từng tay chơi một.
Não trạng của con cọp Trung Hoa khổng lồ thì ai cũng rõ biết, đó là nó đang muốn sổ lồng, nó muốn cả vùng Biển Đông là cái ao tắm của nó.
Não trạng của các nước nhỏ quanh vùng thì rõ ràng là "thủ". Giống như một anh chàng tay không bỗng thấy mình đứng trước một con cọp dữ thì vũ khí chính chỉ là tiếng hét mà thôi.
Còn não trạng của "con cọp giấy" Hoa Kỳ (tên mà Mao đặt cho Mỹ năm 1956) là gì?
Vì đây là một tay chơi vừa nhập cuộc cho nên việc tìm hiểu anh ta cho rõ ràng là rất cần thiết.
Nếu có thể lấy lịch sử mà đóan trước tương lai, thì nước Mỹ là một nước luôn luôn hành động và trung thành theo đuổi một tư tưởng "thịnh thời". Những tư tưởng này có nhiều hình thức và tên gọi khác nhau (như lý thuyết, chương trình, sách lược) nhưng chung qui thì đó là một lọai đồng thuận phát sinh ra bởi một môi trường tự do tư tưởng, lưỡng đảng và chính sách minh bạch mà ra.
Thử nhìn lại một số tư tưởng "thịnh thời" gần gũi với chúng ta nhất.
Sau thế chiến thứ hai, người Mỹ tin rằng để chống lại chủ thuyết Cộng Sản đang phát triển mạnh trong các nước bị tàn phá thì điều cần phải làm là tái thiết. Do đó họ đã bỏ ra 44.3 tỷ Mỹ Kim từ năm 1945 cho đến 1953 để phục hồi nền kinh tế Âu Châu. Những chương trình viện trợ đó thường được gọi chung là Marshall Plan (Truman, 1948).
Marshall Plan không những chặn đứng Cộng Sản ở Châu Âu mà còn đưa Tây Âu đến một thời cực thịnh chưa từng thấy, và đó cũng là lý do gián tiếp của sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết sau này.
Bên phía Á Châu thì người Mỹ tin rằng với những quốc gia nhược tiểu nhưng có nhiều liên hệ về văn hóa lịch sử như Trung Hoa, Việt Nam,Thái Lan và Mã Lai, thì một quốc gia bị đổ sẽ kéo theo sự sụp đổ dính chùm của các quốc gia khác. Dwight D. Eisenhower đặt tên lập luận đó là lý thuyết Domino (Domino Theory, 1954.) vì nó giống như một hàng domino, một con cờ bị lật sẽ dồn những con cờ khác lật theo.
Vì vậy suốt từ năm 1950 cho tới 1980 người Mỹ đã không tiếc tiền đổ vào miền Đông Nam Á để be bờ, ngăn chặn. Những nỗ lực này thất bại vì Trung Hoa và bán đảo Ấn Trung (trong đó có Việt Nam) đã bị mất, nhưng đổi lại các quốc gia khác trong vùng như Thái Lan, Mã lai, Ấn Độ và Indonesia đã có đủ thời gian để tự cải tiến và vượt qua cái hấp dẫn của chủ nghĩa Cộng Sản.
Sự kiện chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ năm 1975 tuy bị coi là một thất bại của lý thuyết Domino nhưng thực ra nó còn là hệ lụy của một chủ thuyết mới ở Mỹ. Lúc này người Mỹ đã nhận ra rằng cả hai bên Tư Bản và Cộng Sản đã phát triển vũ khí hạt nhân nhiều đến nỗi, ngay cả lực lượng trừ bị lọai thứ ba cũng đủ sức tiêu diệt tòan thể nhân lọai nhiều lấn (nghĩa là nếu một nước bị tấn công bất ngờ và lực lượng nguyên tử lọai tấn công bị tiêu diệt tới hai lần liên tiếp thì lực lượng nguyên tử lọai thứ ba cũng vẫn có thể tự sát cả thế giới.) Trong một bối cảnh như thế thì chiến thắng là vô nghĩa và do đó con đường phải đi là hòa hõan với nhau (Detente), cuộc chiến về quân sự đã lỗi thời và chiến tuyến mới chính là kinh tế. Từ năm 1969 cho tới 1977 Nixon và Kissinger đã làm hòa với Nga, làm bạn với Tàu để mở rộng thị trường trong một chính sách hòa hõan và xáp lại gần nhau (Detente and Rapprochement). Việt nam là một con cờ lỗ lã trong nước cờ kinh tế này, và vì thế mà bỏ đi càng sớm thì càng tốt.
Từ năm 1981 cho đến 1989 sự phục hồi kinh tế của Hoa Kỳ đã vững mạnh đến nỗi Reagan có thể chủ trương "Hòa Bình trong thế mạnh" (peace through strength). Ông không để cho Liên Bang Xô Viết rảnh tay lo việc kinh tế nữa bằng cách giáp công ba mặt: (1) Không bán cho LBXV những kỹ thuật cao, (2) cạnh tranh hàng hóa để mặt hàng LBXV mất giá và (3) tăng cường chi phí quốc phòng làm cho LBXV phải chạy đua. Trong những năm sau cùng của cuộc chiến tranh lạnh, Moscow đã phải chi tới 25% GDP (tổng sản lượng quốc gia) cho kinh phí quân sự mà vẫn không theo kịp Mỹ trong khi tòan dân đói khát phải xếp hàng cả nửa ngày để mua được một mẩu bánh mì. Cuộc chiến đã kết thúc không một tiếng súng trong thời Tổng Thống Bush (cha).
Từ đó cho đến nay, Những tin tưởng của Hoa Kỳ vẫn phản ảnh những ưu tiên đã có từ thời Nixon và Kissinger. Nghĩa là vẫn tìm thị trường phát triển bằng cách kết thân với Trung Quốc. Nhưng với sự chỗi dậy của Nga và sự phát triền hải quân của Tàu mới đây, nhiều lý thuyết gia Mỹ đã bắt đầu đặt lại phương trình.
Một lý thuyết gia được nói tới nhiều là George Friedman. Trên tạp chí hàng đầu của giới trí thức Mỹ, khi người ta đăng bài của Tổng Thống Obama về những kỳ vọng của 40 năm sắp tới, ngay bên cạnh người ta cũng đăng ý kiến của ông về viễn ảnh thế giới 40 năm sau (The Smithsonian, special issue, Our 40th Anniversary 1970-2010.)
Có thể gọi ông là một quân sư vì ông là chủ tịch của một hãng tình báo tư, hãng STRATFOR. Hãng của ông cung cấp tình báo cho các chính phủ và các cơ sở thương mãi. Đây là hãng tư nhân duy nhất được nối mạng với hệ thống chiến tranh giả định của chính phủ HK (Joint Theater Level Simulation by the Joint Warfighting Center.)
Không rõ ông có tiếng nói gì trong những chính sách của Obama hay không, nhưng là một tiến sĩ chính trị tại Cornell University, ông đã viết nhiều sách tiên đóan về tương lai thế giới như The Next 100 Years, America's Secret War, The Intelligence Edge, and The Future of War.
Ông là người duy nhất trong các tác giả hiện đại đã tính tóan một vấn đề dựa trên các dữ liệu của cả hai yếu tố kinh tế và quân sự.
Những tiên đóan của ông có khi lạ lùng khó tin, nhưng quan trọng không phải là ở sự việc có xảy ra hay không, hoặc sẽ xảy ra đúng ngày giờ không, mà là những yếu tố cấu tạo ra sự việc có tính cách thuyết phục hay không.

Ông tiên đóan:
Năm 2020 Nước Tàu sẽ phân chia.
Năm 2050 Thế chiến thứ 3 sẽ xảy ra giữa các liệt cường là Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan và Nhật.
Tại sao Ba Lan (nền Kinh Tế thứ 21 trên thế giới) sẽ trở thành liệt cường trong vòng 40 năm thì đó là việc cần phải chờ xem và Friedman cũng không đưa ra nhiều chứng cớ rõ ràng. Tuy nhiên ông nói Ba Lan vì ở giữa hai gọng kìm Đức và Nga cho nên sẽ luôn luôn là đồng minh trung thành của Mỹ.
Thổ Nhĩ Kỳ (nền Kinh Tế thứ 17) là nước tiền tiến nhất của khối Hồi Giáo, có quân đội hùng mạnh nhất Châu Âu, đang là một thế lực hải quân ở Địa Trung Hải, sẽ có thể trở thành trung tâm của khối Hồi Giáo và sẽ cần một lực lượng hải quân rộng hơn để nối liền các quốc gia hồi giáo quanh vùng Ấn Độ Dương.
Về việc nước Tầu, Friedman cho rằng Trung Hoa sẽ không thể trở thành một đe dọa cho Mỹ vì trong sân nhà của Trung Hoa sẵn có một tỷ người đang đói rách, khác chủng tộc, và sống trong các vùng khô cằn. Một quốc gia với vóc dáng kinh tế và quân sự chưa vững vàng như vậy thì việc lo nội trị đã đủ là một vấn đề rồi. Chưa kể đó là những yếu huyệt sẽ quật ngã Trung Hoa nếu chiến tranh tòan diện xảy ra, cho nên Trung Hoa sẽ tránh những đụng độ lớn.

Nước Nhật là quốc gia có nền kinh tế ngang ngửa với Trung Hoa, nhưng dân Nhật đòan kết, nền kinh tế và quân sự vững bền. Con đường sống của Nhật là hàng hải cho nên họ ưu tiên phát triển hải quân và đang đứng đầu Á Châu. Mỗi năm chi phí quốc phòng của Nhật là 45.8 tỷ, chỉ sau Hoa Kỳ và Anh Quốc, to gấp rưỡi chi phí của Tẩu (29.9 tỷ). Quan trọng hơn, kinh phí đó chỉ là 1% GDP của họ, có nghĩa là họ có thể tăng gấp 3 lực lượng hải quân một cách dễ dàng (Mỹ 3.6% GDP kể chung các binh chủng.)
Friedman không đề cập nhiều đến Ấn Độ và Ba Tây. Có thể ông cho rằng Ấn Độ sẽ không bao giờ thách thức Mỹ, hoặc như nhiều nhà phân tích khác (i.e Joel Kotkin) thì Ấn Độ sẽ không tiến xa chỉ vì xã hội Ấn luôn luôn phân hóa. Còn Ba Tây thì cho đến nay vẫn chưa là một hải lực quan trọng.
Friedman tiên đóan Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật sẽ thách thức sức mạnh hải quân của Hoa Kỳ và cuộc chiến sẽ khởi đầu bằng những đụng độ trên không gian để tiêu diệt vệ tinh viễn thông điều khiển tầu bè của nhau.
Như đã nói ở trên, những tiên đóan của Friedman lạ lùng và khó tin, nhưng quan trọng không phải là ở sự việc có xảy ra hay không mà là những chứng cớ. Về điểm này thì hầu như các bình luận gia của Mỹ đồng ý với nhận xét của Friedman về hai nước Nhật và Tầu, ít ra là chưa có nhiều ý kiến đối lập.

Thế kỷ 21 cho thấy tầm quan trọng về kinh tế của khu vực Thái Bình Dương, số lượng giao thương đã vượt qua Đại Tây Dương.
Hoa Kỳ là cường quốc duy nhất tiếp cận với cả hai đại dương cùng một lúc, và là cường quốc duy nhất kiểm sóat tất cả các mặt biển trên trái đất. Sức mạnh kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ tùy thuộc vào Hải Quân. Cho nên sẽ không ai được thách thức Hải Quân của Hoa Kỳ và Hoa Kỳ sẽ kềm giữ những ai có tham vọng phát triển Hải Quân để trở thành một mối lo cho họ.
Hoa Kỳ trong một tương lai gần sẽ vẫn là vô địch về kinh tế và quân sự. Trong vòng 40 năm tới, dân số Hoa Kỳ sẽ trẻ lên 42%, trong khi Trung Hoa già đi 10%, Âu Châu già đi 25% Nam Hàn già đi 30% và Nhật 40% (Theo ước tính cùa sở kiểm tra dân số Hoa Kỳ.) Sự trẻ trung hóa đó cộng với một nền giáo dục thúc đẩy công nghệ cao (các trường Đại Học Mỹ đào tạo nhiều kỹ sư hơn Ấn Độ và Nhật xét theo cả hai hai phương diện tỳ số và số lượng,) cộng với yếu tố đất rộng, nhiều tài nguyên nội địa, là những lý do giúp Hoa Kỳ duy trì vị thế độc tôn này.
Nếu giới quân sự Mỹ có ý kiến tương đồng với Friedman về những thế lực có thể thách thức sức mạnh của Mỹ trong tương lai thì quốc gia mà Mỹ lưu tâm trong vùng Thái Bình Dương là Nhật chứ không phải là Trung Hoa. Và lý do Mỹ phải bảo vệ đường biển tại Biển Đông là có chủ ý không cho Nhật có cái lý do là cần phát triển hải quân thêm nữa để bảo vệ lấy mình.
Một khi Trung Quốc nhượng bộ quyền hải lưu của Nhật và Mỹ vừa đủ, thì thái độ của Hoa Kỳ sẽ lập tức đổi chiều. Mỹ vẫn coi trọng thị trường rộng lớn của Trung Hoa và vẫn coi Trung Hoa là không nguy hiểm.
Việt Nam trở nên quan trọng với Mỹ chỉ vì Trung Quốc đã đi quá đà cần phải điều chỉnh lại. Nhưng sự quan trọng này là tạm bợ và không thỏai mái vì kinh nghiệm đã làm cho Mỹ không tin vào Việt Nam được. Sự liên kết hay tương trợ này chỉ có thể kéo dài nếu Việt Nam được sự hậu thuẫn chính trị trong nước Mỹ và, tuy chưa đủ khả năng kiểm sóat Biển Đông thì cũng phải có khả năng phá rối.

Nhìn vào thế cờ Biển Đông, cho đến khi Việt Nam thực sự là một tay chơi có bản lĩnh và căn cơ, Việt nam vẫn chỉ là một nước cờ người khác tạm dùng.
Và nếu thực sự như vậy, thì những lạc quan của người Việt khắp nơi vẫn giống như những giọt bọt bèo mau vỡ mà thôi.
Trần Mạnh Trác

Thursday, August 19, 2010

The U.S. Troop Leaving Iraq / Letter from Obama



The White House, Washington
Good afternoon,
Shortly after taking office, I put forward a plan to end the war in Iraq responsibly. Today, I'm pleased to report that -- thanks to the extraordinary service of our troops and civilians in Iraq -- our combat mission will end this month, and we will complete a substantial drawdown of our troops.

Over the last 18 months, over 90,000 U.S. troops have left Iraq. By the end of this month, 50,000 troops will be serving in Iraq. As Iraqi Security Forces take responsibility for securing their country, our troops will move to an advise-and-assist  role. And, consistent with our agreement with the Iraqi government, all of our troops will be out of Iraq by the end of next year. Meanwhile, we will continue to build a strong partnership with the Iraqi people with an increased civilian commitment and diplomatic effort.

A few weeks ago, men and women from one of the most deployed brigades in the U.S. Army, the 2nd Brigade Combat Team, 10th Mountain Division, returned home from Iraq. The Vice President and Dr. Jill Biden were at Fort Drum to welcome the veterans home and spoke about their personal experiences as a military family:

Watch the Video Our commitment to our troops doesn't end once they come home -- it's only the beginning.  Part of ending a war responsibly is meeting our responsibility to the men and women who have fought it. Our troops and their families have made tremendous sacrifices to keep our nation safe and secure, and as a nation we have a moral obligation to serve our veterans as well as they have served us.

That's why we're building a 21st century Department of Veterans Affairs.  We've made one of the largest percentage increase in the VA’s budget in 30 years, and we're dramatically increasing funding for veterans' health across the board. In particular, we're delivering unprecedented resources to treat signature wounds of today's wars—Traumatic Brain Injury and Post-Traumatic Stress Disorder.

Our sacred trust to take care of our veterans goes beyond simply healing the wounds incurred in battle. We must ensure that when our veterans leave the Armed Forces, they have the opportunities they need to further their education and support their families.  Through the Post-9/11 GI Bill, some 300,000 veterans and families members have pursued a college degree.  Others are taking advantage of job training and placement programs.

My Administration will continue to do our part to support the brave men and women in uniform that have sacrificed so much.  But supporting our troops and their families is not just the job of the Federal Government; it's the responsibility of all Americans.

As we mark this milestone in the Iraq war and our troops continue to move out of Iraq, I hope you'll join me in thanking them, and all of our troops and military families, for their service.

Sincerely,
President Barack Obama

Friday, August 13, 2010


“NƯỚC MỸ CỦA TÔI” VÀ CUỘC TẤN CÔNG THỨ HAI

Tối 20.9.2001, trong thông điệp đặc biệt đọc trước lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ về cuộc khủng bố tấn công chín ngày trước, Tổng thống George W. Bush nói:
“Ngày 11 tháng 9, kẻ thù của tự do đã gây chiến chống lại đất nước chúng ta. Người Mỹ đã biết những cuộc chiến tranh, nhưng trong 136 năm qua, chúng ta đã lâm chiến trên lãnh thổ nước ngoài, trừ một lần vào ngày chủ nhật năm 1941.
“Người Mỹ đã biết đến những tổn thất của chiến tranh, nhưng không phải ở trung tâm một thành phố vĩ đại vào một buổi sáng an bình. Người Mỹ đã biết đến những cuộc tấn công bất ngờ, nhưng trước đây chưa từng có cuộc tấn công nào nhắm vào hàng ngàn thường dân. Tất cả những điều này đã đến với chúng ta chỉ trong một ngày, và màn đêm đã buông xuống trên một thế giới khác: một thế giới mà tự do bị tấn công.
“Tối nay, người Mỹ có nhiều câu hỏi: Ai đã tấn công đất nước chúng ta?”
Một tuần lễ sau, người Mỹ đã có câu trả lời: Kẻ đã lén lút tấn công nước Mỹ ngày 11.9.2001 là Osama Bin Laden và tổ chức khủng bố Hồi giáo quá khích Al Qaeda của hắn đặt căn cứ tại Afghanistan được chính quyền Taliban dung dưỡng.

Mấy tháng sau, quân đội Mỹ mở chiến dịch tấn công Afghanistan, lật đổ chế độ Taliban và truy lùng Osama Bin Laden. Nay, sau tám năm chiến tranh hao người tốn của, người Mỹ vẫn chưa bắt hay giết được Osama Bin Laden. Hắn vẫn còn lẩn trốn trong vùng núi non hiểm trở ở biên giới Pakistan và loạn quân Taliban vẫn tiếp tục chiến đấu, kiểm soát nhiều khu vực trên lãnh thổ Afghanistan. Không mấy ai tin rằng tình hình nước này sẽ ổn định khi quân Mỹ ra đi vào tháng 7.2011 theo kế hoạch được loan báo trước của Tổng thống Obama.
Trong khi đó, Al Qaeda vẫn tiếp tục âm mưu tấn công nước Mỹ bằng chiến thuật khủng bố mà sự thất bại chỉ là nhờ may mắn của người Mỹ - từ vụ toan làm nổ một chuyến bay thương mại với hơn 200 hành khách trên bầu trời Denver vào ngày lễ Giáng sinh 2009 đến một chiếc xe chứa đầy chất nổ được phát hiện giữa thành phố New York vài tháng sau.

Và nay, thành phố New York lại đang là mục tiêu của một cuộc tấn công khác, dưới một hình thức khác, tuy không có người chết và nhà cửa sụp đổ, nhưng không kém hung hiểm. Ngày 3.8 vừa qua, Hội đồng Bảo quản Di tích (Landmarks Preservation Commission) TP New York đã biểu quyết với số phiếu tuyệt đối 9-0 bác bỏ tính cách di tích lịch sử của một cao ốc được xây từ 150 năm trước toạ lạc tai số 45-47 Park St., dọn đường cho dự án xây dựng một thánh đường và trung tâm văn hoá Hồi giáo tại đây.
Quyết định này đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận gay gắt giữa phe ủng hộ và phe chống đối dự án này. Trung tâm của cuộc tranh luận là ngôi thánh đường Hồi giáo dự định xây cất chỉ cách “Ground zero”, khu đất của Trung tâm Mâu dịch Thế giới đã sụp đổ trong cuộc tấn công ngày 11.9.2001, có 600 feet (khoảng 200 mét).

Trong khi hơn 60 phần trăm cư dân thành phố New York chống đối dự án này thì người ủng hộ nhiệt tình nhất lại là ông Thị trưởng Michael R. Bloomberg. Ngày 3.8, trước mặt những lãnh tụ đại diện cho nhiều tôn giáo, với Tượng Nữ Thần Tự Do ở phiá sau lưng, Ông Bloomberg nói với giọng khích động hiếm thấy:
“Khi chạy tới hai toà cao ốc đang bốc cháy, không ai trong những người tiếp cứu hỏi: ‘Anh cầu nguyện Thượng đế nào? Đức tin của anh là gì?’ Chúng ta không thể vinh danh những người đã hy sinh mạng sống anh hùng ấy bằng cách khước từ chính những quyền hiến định mà họ đã chết để bảo vệ… Tôi tin rằng đây là một trắc nghiệm cũng quan trọng như sự phân cách giữa giáo hội và quốc gia, và điều hết sức quan trọng là chúng ta quyết định đúng.”

Những lời lẽ thật hay đẹp. Và, Ông Bloomberg, một tỉ phú đã đổi từ đảng viên Cộng Hoà sang Độc Lập và đã làm thị tưởng New York 8 năm rưỡi, nói thêm: “Toà nhà này là tài sản của tư nhân và sở hữu chủ có quyền dùng vào việc thờ cúng. Chính quyền không có bất cứ quyền năng nào để chối từ quyền ấy.”
Nghe thật chính đáng và đầy tinh thần thượng tôn hiến pháp. Nhưng những người chống đối lại có cái nhìn khác, và có lý do cũng rất chính đáng, để không coi đây là một thánh đường bình thường như những thánh đường khác:
- Tại sao lại chọn địa điểm quá gần “ground zero”?
- Thầy tu (Imam) Feisal Abdul Rauf, người đứng đầu dự án, có tư tưởng cực đoan.
- Kinh phí hơn 100 triệu Mỹ kim từ đâu mà ra?
“Ground zero” không phải chỉ là nơi Trung tâm Mậu dịch Thế giới đã sụp đổ, hay chỉ đơn giản là nơi đã diễn ra một tội ác trọng đại. Hơn thế, đó là một chiến địa, là nơi đã thấm máu của ba ngàn con người, hầu hết là người Mỹ, đã bị tàn sát vào ngày định mệnh ấy. Đó là một đền thờ của quốc gia, cũng như Trân Châu Cảng, để tưởng nhớ những nạn nhân của tội ác do Hồi giáo cực đoan gây ra trên đất Mỹ.
Những người chống đối nói rằng cuộc tấn công ngày 11.9 do Hồi giáo cực đoan tiến hành nhân danh cuộc thánh chiến chống lại phương Tây, và đã dùng kinh Koran cùng những nguyên tắc Hồi giáo để biện minh cho hành động giết người. Mục tiêu của chúng là đem thánh chiến vào nước Mỹ để tung ra một cuộc đụng độ của hai nền văn minh, cùng lúc đang diễn ra trên khắp thể giới để áp đặt một đế quốc Hồi giáo dựa trên giáo luật Shariah. “Ground Zero” chính là nơi Hồi giáo cực đoan đã chọn để đưa chiến tranh vào nước Mỹ.
Vì vậy, xây dựng một thánh đường Hồi giáo tại đây là một thách thức về tôn giáo, là cố ý tát vào mặt những nạn nhân, gia đình họ, và toàn thể dân Mỹ. Vì vậy mà những người chủ trương đã không lùi bước trước những chống đối và cũng không chấp nhận một khu đất khác xa hơn. Họ biết rằng toà nhà cao 13 tầng này, gồm một giáo đường và một trung tâm văn hoá Hồi giáo với một hội trường 500 chỗ ngồi, sẽ tạo một bóng đen khổng lồ áp đảo “ground zero”, được dùng như một biểu tượng của Hồi giáo chinh phục nước Mỹ. Nếu Hồi giáo có thể xây thánh đường tại chiến địa 11 tháng 9, họ có thể áp đặt ý muốn của họ bất cứ tại đâu.

Thầy tu Feisal Abdul Rauf, linh hồn của dự án xây thánh đường cạnh “ground zero”, bị cáo buộc là một người Hồi giáo chiến đấu không hối cải, một người đạo Hồi phiêu lưu. Ông ta từng công khai tuyên bố rằng chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ là một phụ tùng của cuộc tấn công ngày 11 tháng 9. Nói cách khác, theo cái nhìn của Thầy tu Rauf, người Mỹ đã tự đem sự tàn ác đến cho mình. Ông ta kêu gọi du nhập luật Shariah vào toà án Mỹ. Vắn tắt, ông ta công khai tìm cách Hồi giáo hoá nước Mỹ.
Thầy tu Rauf cũng bị tố là một người Hồi giáo đạo đức giả. Ông ta dùng Hiếp pháp Hoa Kỳ để đòi được tự do tôn giáo trong khi hô hào áp dụng luật Shariah, theo đó hoà trộn giáo hội và quốc gia, và ức chế tôn giáo khác. Người Hồi giáo đang sử dụng tự do của người Mỹ trong mưu toan tiêu diệt tự do của người Mỹ.
Rauf không chịu tiết lộ nguồn gốc của số tiền hơn 100 triệu Mỹ kim để thực hiện dư án và chính quyền Mỹ cũng không bận tâm tìm hiểu xuất xứ của số tiền không nhỏ ấy. Hơn thế nữa, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ coi Rauf là một “nhà tu Hồi giáo ôn hoà”, và còn dùng tiền của dân đóng thuế để cử Rauf “công du” vùng Trung Đông với sứ mạng tạo “sự hiểu biết lớn hơn” về đạo Hồi và các cộng đồng Hồi giáo ở Mỹ. Dĩ nhiên ông ta sẽ không bỏ lỡ cơ hội để kiếm tiền, gây quỹ xây dựng ngôi thánh đường Hồi giáo ngay cạnh “ground zero”, nơi được những người chống đối gọi là khu “đất thiêng liêng”.
Tổ chức ACLJ (American Center for Law & Justice) đã nạp đơn kiện Hội đồng Bảo trì Di tích về quyết định bác khước tính cách di tích lịch sử của toà nhà số 45-47 Park St. với sự hậu thuẫn của một số tổ chức khác, và nhiều nhân vật tên tuổi của hai Đảng Cộng Hoà và Dân Chủ. Cuộc chiến còn tiếp diễn trên bình diện quốc gia.
Nếu coi “ground zero” là chiến địa của cuộc tấn công ngày 11/9.2001 thì nay nó đang bị tấn công lần thứ hai, và nếu lần này Hồi giáo lại thắng nữa, e rằng USA có ngày sẽ biến thành “United States of Arabia” như một nhà bình luận trên tờ Washington Times đã chua cay tiên đoán.
Nhưng, nước Mỹ không phải chỉ bị “Hồi giáo ôn hoà” tấn công trên mặt trận không tiếng súng, cùng lúc với “Hồi giáo cực đoan” âm mưu khủng bố bằng bom đạn. Trong gần hai năm vừa qua, dân Mỹ đã nhận ra những quyền tự do hiến định của mình đang bị mất đi dần dần, từng mảng một, trong lúc chính quyền mỗi ngày một bành trướng để kiểm soát từ kinh tế, tài chính, đến sức khoẻ, y tế, mặc sức chi tiêu với Đảng Dân Chủ kiểm soát cả hai viện Quốc hội và một ông tổng thống Dân Chủ có khuynh hướng “xã hội chủ nghiã”.

Nước Mỹ đang trên đà phá sản và tiến tới xã hội chủ nghiã kiểu Âu Châu bằng những quyền lực không do dân bầu ra cấu kết với nhau (toà án, truyền thông báo chí, các trường đại học, các viên chức bàn giấy, Hollywood, vân vân).
Năm ngoái, trước khi được bán với giá một đô-la (1 USD) cho chồng một nữ dân biểu Đảng Dân Chủ, tạp chí Newsweek đã vui mừng chạy một tựa đề lớn: “WE ARE ALL SOCIALISTS NOW”.
Hai tháng trước, cơ quan thăm dò ý dân của Đảng Dân Chủ (Democracy Corps) hỏi dân Mỹ “how well the term ‘socialist’ fit President Obama”. Kết quả: 55 phần trăm trả lời “well” hay “very well”. Cũng trong tháng ấy, một cuộc thăm dò của Viện Gallup cho thấy 42 phần trăm dân Mỹ tự coi mình là bảo thủ (conservative) - một tỉ lệ cao lịch sử, 35 phần trăm trung dung (moderate), 20 phần trăm tự do cấp tiến (liberal). Ba phần trăm còn lại được xem như thuộc thành phần xã hội, cộng sản, vô chính phủ, phát-xít, quốc xã...

Có những dấu hiệu cho thấy dân Mỹ đã bừng tỉnh sau cơn mê “Thay đổi” (Change) và đang chờ đợi để bước vào phòng phiếu vào tháng 11 tới đây mà kết quả sẽ quyết định tương lai nước Mỹ “của tôi”.

Năm 2001, sau 13 năm trở thành công dân Mỹ trên giấy, lần đầu tiên vào sáng ngày 11 tháng 9, tôi đã có cảm nghĩ rõ ràng “nước Mỹ của tôi” khi nhìn hai toà nhà chọc trời ở New York cháy ngùn ngụt trước khi sụp đổ trên màn ảnh computer tại văn phòng của sở ở Washington DC, và sau đó da trắng, da đen, da vàng đã ôm nhau khóc.
Rồi khi lái xe về nhà và bị kẹt trên đường phố hàng giờ, nhìn cột khói đen lớn bốc lên từ phiá Ngũ-giác-đài bên kia sông Potomac, tôi tưởng như đang sống lại cảnh Tết Mậu Thân ở Sài-Gòn và thầm khấn nguyện: “Xin Thượng đế phù hộ cho nước Mỹ… của tôi”.
Mấy ngày sau, tôi đã chăm chú nghe thông điệp của Tổng thống Bush như một nhà lãnh đạo đất nước của mình, và có thể đã hiểu sâu xa những điều ông nói hơn là nhiều người Mỹ khác, hậu duệ sung sướng của những người di dân trước đây nhiều thế hệ đã tạo lập nên quốc gia vĩ đại tự do này, nhất là khi nghe ông Bush nói về cuộc chiến sắp tới để bảo vệ đời sống tự do:
“Diễn tiến của cuộc chiến đấu này chúng ta chưa biết, nhưng kết quả thì chắc chắn. Tự do và sự sợ hãi, công lý và sự tàn bạo đã luôn luôn ở trong tình trạng chiến tranh với nhau, và chúng ta biết Thượng đế không đứng trung lập giữa những điều ấy.”
Phải là những người đã sống trong sự sợ hãi và tàn bạo, như tôi, mới cảm nhận sâu xa ý nghĩa những lời nói trên đây.
Gần mười năm đã trôi qua, cuộc chiến đấu cho tự do và công lý của đất nước này vẫn còn tiếp tục, có phần còn quyết liệt và hiểm nguy hơn lúc khởi đầu.
Xin Thượng đế phù hộ cho “nước Mỹ của tôi.”

Sơn Tùng
13.8.2010