Thursday, December 2, 2010

BẢY MƯƠI HAI NĂM (1948-2010) ÐỐI ÐẦU GIỮA HOA KỲ-DO THÁI VÀ CÁC NƯỚC HỒ I GIÁO Ả RẬP TẠI TRUNG ÐÔNG





            Cuộc đối đầu giữa Hoa Kỳ-Do Thái và các nước Hồi Giáo Ả Rập ( kể cả Ai Cập, Iran và Bắc Phi), có bề dầy lịch sử hơn 72 năm, mà hậu quả ngày nay là cuộc chiến tranh tại Trung Ðông, hầu như là không bao giờ có thể chấm dứt, trừ phi một trong hai kẻ tử thù bị tiêu diệt.

            Mới đây một nhóm nhà nghiên cứu gồm Mỹ, Âu Châu và Irael, căn cứ vào các đặc tính của ngành di truyền học, qua nhóm nhiểm sắc thể Y (từ cha truyền sang con) của 1370 người, sống tại 29 nước, gồm Do Thái, Bắc Phi và Châu Âu. Kết quả cho thấy người Do Thái sống ở nước ngoài, Palestine, Syria và Lebanon đều có chung đặc điểm di truyền học. Các nhà khoa học đã tuyên bố công trình nghiên cứu trên tại tạp chí “ Proedings of the National Academy of Sciences “ ngày 9-5-2000, xác quyết các dân tộc đó có chung một tổ tiên. Nhưng nếu điều đó là đúng, thì cũng đâu có ăn nhằm gì với thực tại con người vì “ Ấn Ðộ, Pakistan,Tích Lan, Bangadesh “ đều là người Ấn 100% nhưng họ vì tôn giáo mà đâm giết nhua còn hơn kẻ thu. Rồi “ Nam, Bắc Hàn “ và VN từ Bắc vào Nam đều là 100% cháu Lạc con Hồng, nhưng Hồ Chí Minh và CSVN đâu có bao giờ coi người Việt, là đồng bào đồng chũng đâu ? nên đời nay khó mà xin xõ tình huyết nhục là vậy đó.

             Tiểu Á là cái nôi văn minh của ba châu Phi, Âu và Á,khởi đầu từ năm 1947-1948, sau khi Thế Chiến 2 chấm dứt, được LHQ bỏ phiếu chia miền Palestne, thành hai quốc gia Do Thái và Palestine, để giải quyết số phận của mấy triệu người Irael vô tổ quốc. Sự kiện trên làm cho hơn 300.000 người Palestine phải bỏ quê hương, để sang tị nạn chính trị tại các nước Hồi Giáo Ả Rập quanh vùng.

             Năm 1956, Do Thái tấn công Ai Cập chiếm kênh đào Suez nhưng sau đo phải rút về nước qua áp lực của LHQ. Năm 1966, Hoa Kỳ chính thức bán các loại phi cơ chiến đấu tối tân và hiện đại cho Do Thái, bất chấp lệnh cấm vận của Hội đồng Bảo An đang còn hiệu lực. Chiến cuộc Trung Ðông lại bùng nổ dữ dội vào năm 1967, được gọi là cuộc chiến 6 ngày, giữa Do Thái và các nước Ả Rập láng giềng. Trong trận này, Do Thái đã chiếm toàn bộ thánh địa Jerusalem của Palestine, bán đảo Sinai và dãi Gara của Ai Cập, vùng tây ngạn sông Jordan của Jordanie và cao nguyên Golan của Syria. Dù LHQ ra nghị quyết 242, bắt Do Thái trả lại đất cho các nước nhưng Irael bất tuân lệnh. Ðã vậy còn tiến hành các cuộc di dân tới những vùng mới chiếm đó, để lập các khu trù mật kinh tế mới, hầu giải quyết sự khan hiếm thực phẩm và nạn nhân mản. Ðồng thời biến những khu vực trên như những tiền đồn, ấp chiên lược, bảo vệ thành phố, thủ đô.

            Năm 1968, khủng bố Palestine, thực hiện vụ không tặc đầu tiên trên thế giới, khi bắt giữ con tin trong chuyến bay của hảng hàng không ELAL (Irael) từ Rome tới Tel Avis. Năm 1972, 8 cảm tử quân trong Tổ chức “ Tháng 9 Ðen “ đột nhập vào Làng Thế Vận Munich của Tây Ðức, sát hại 11 vận động viên Do Thái. Năm 1973, liên quân Ai Cập-Syria lại tấn công Do Thái, để chiếm lại Sinai và Golan nhưng bị thất bại. Dịp này, Mỹ đã cắt xén quân viện của VNCH theo đề nghị của Kissinger (gốc Do Thái) để viện trợ khẩn cấp cho Do Thái hơn 2,2 tỷ đô la. Năm 1974, LHQ ra nghị quyết cho phép thành lập nước Palestine. Năm 1976, Ðại sứ Mỹ tại Lebanon là Francis Meloy bị ám sát tại thủ đô Beirut. Mỹ đóng cửa Toà đại sứ nước này.

            Năm 1978, Ai Cập và Do Thái ký hiệp định hòa bình tại trại David, Tổng thống Ai Cập là Anwar Sadat cùng Thủ tướng Do Thái Manachem Begin, nhận được giải Nobel hòa bình. Năm 1981, Do Thái tấn công Lò phản ứng nguyên tử của Iraq, Tổng thống Ai Cập Sadat bị ám sát. Năm 1982, Do Thái tấn công Lebanon đánh đuổi Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) ra khỏi nước này, lập một vùng trái độn dọc theo biên giới 2 nước và vào sâu lảnh thổ Lebanon hơn 40 km, để thiết lập các trại tị nạn Sabra và Shatila, ngoại ô thủ đô Beirut. Năm 1983, doanh trại của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, trong đạo quân gìn giữ hòa bình tại Beirut bị đặt bom, làm 241 quân nhân bị tử vong.

            Năm 1987, cuộc chiến giữa Do Thái và Palestine, bùng phát tại vùng tây ngạn sông Jordan và trên dãi Gaza. Năm 1994, Jordan và Do Thái ký hiệp ước hòa bình. Dịp này Yasser Arafat, Yitzhak Rabin và Simon Peres lại được giải Nobel hòa bình. Năm 2000, cuộc thương lượng hòa bình Trung Ðông tại trại David thất bại, mở đầu cho cuộc chiến mới khi Sharon lên làm Thủ Tướng Do Thái.

            So về diện tích và dân số (8,020 dặm vuông hay 20.772km2 với 4,5 triệu dân), Do Thái chỉ là một chấm nhỏ giữa các quốc gia Trung Ðông như Ai Cập,Thổ nhỉ Kỳ và Ả Rập hoàn toàn theo Hồi giáo, lúc nào cũng muốn tiêu diệt nước này. Nhưng từ ngày lập quốc năm 1948 cho tới nay (2010) ngoại trừ Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư chưa trực tiếp đụng độ, còn các nước Hồi giáo khác, kể cả Iraq và Ai Cập đều bị Do Thái đánh bại. Sức mạnh lại càng tăng thêm nhất là hiện nay Do Thái có kho bom và tàu ngầm trang bị đầu đạn nguyên tử đưọc điều khiển từ xa, mà tờ Times Sunday số ra ngày 18-6-2000 đã công bố. Nhưng quan trọng nhất cho sự tồn vong của nước này vẫn là thế lực hậu thuẩn to lớn của “ Siêu quyền lực Do Thái “ tại Hoa Kỳ và khắp nơi trên thế giới.

            Vì Do Thái là nước đứng sau Mỹ-Nga có nhiều bom nguyên tử. Sự kiện càng làm các nước Ả Rập trong vùng thi nhau chạy đua vũ trang, làm cho tình hình an ninh trong vùng thêm rôí loạn, khi liên quân Mỹ-Anh lật đổ và giết Sadam Hussein, chiếm các mõ dầu tại Iraq, đuổi Trung Cộng và Nga ra khỏi nước này, nên từ đó cả hai không ngớt và không bỏ lỡ bất cứ một cơ hội vàng ròng nào, xúi giục “ Iran, Bắc Hàn và Các Tổ Chức Hồi Giáo cực đoan “ làm rối loạn cả thế giới bằng bom đạn, khủng bố và hận thù. Màn hỏa mu “ợ tranh dành đất đai giữa hai dân tộc Irael và Palestine “ chỉ là lớp sơn hào nhoáng cho có chính nghĩa, hầu che đây mặt thật sự tranh chấp kinh khiếp của các cường quốc, về các mõ dầu không lồ tại Trung Ðông, Bắc Phi, Trung Á và Biển Caspiene.

             Theo tin tức từ Anh, hiện Do Thái có từ 100-200 đầu đạn nguyên tử, bốn tàu ngầm trang bị vũ khí hạt nhân và người Do Thái đã nói thẳng không chút e ấp, vũ khí này để chọi với Ba Tư, cũng như bất cứ nước nào tấn công vào lãnh thổ mình, bằng chứng là năm 1973, khi bị Ai Cập và Syria tấn công, Thủ Tướng Do Thái đã ra lệnh lắp đầu đạn tầm gần và chỉ còn chút xíu nửa là khai hỏa nếu bộ binh bị thất trận.

1 - CÁC TỔ CHỨC VÕ TRANG PALESTINE :

            Năm 1982, khi Sharon còn là Bộ trưởng Quốc Phòng Do Thái, đã biết được vai trò vô cùng quan trọng của nhân vật lãnh đạo tổ chức PLO là Arafat, nên khi thành Thủ tướng đã tìm đủ mọi cách để giết cho được kẻ đối đầu. Bởi vậy không lấy làm lạ khi tờ Le Firago ngày 4-4-2002, đăng tin Thủ tướng Do Thái Sharon, yêu cầu Tổng thống Arafar ra đi và không được quay về Palestine.

             Ðề nghị này, chính Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là Colin Powell cũng cho là vô lý. Ðó cũng là lý do Liên Âu và Hoa Kỳ tuyên bố, chỉ có “ Yasser Arafat “ mới có đủ tư cách, đại diện cho người Palestine, qua các cuộc đối thoại, để tìm kiếm hòa bình cho dân tộc mình. Ngày 28-9-1995 tại Hội Nghị OLso 2 ở Na Uy, các phe phái đã cùng ký một tạm ước, trong đó có điều 4, phụ lục 1, cho phép Palestine, được thành lập một lực lượng cảnh sát, do Arafat tổng chỉ huy, giữ an ninh trật tự vùng tự trị của người Palestine.

+ Các Tổ Chức Vũ Trang của PLO :

            Ngoài tổ chức cảnh sát được công khai hoạt động, người Palestine còn có nhiều Tổ Chức Vũ Trang khác rất bí mật, cho nên không ai rỏ quân số cũng như địa bàn nhưng tất cả đều có mục tiêu chính là chống lại người Do Thái. Hiện nay qua báo chí, mới biết :

- FATAH : Tên viết tắt của tổ chức Harakat al tabrir al watani al filistini . Ðây là một tổ chức vũ trang của người Palestine có thực lực rất mạnh và kỷ luật, chính thức hoạt động từ ngày 1-1-1965. Ngưng hoạt động từ 1994 tới 9/2000 khi Do Thái và Palestine ký kết hiệp ước hòa bình. tại Olso. Nhưng rồi cuộc chiến tại Infitada bùng nổ sau tháng 9-2000, tổ chức Fatah hợp tác với tổ chức Chabiba, chống lại Do Thái.
- TANZIM : Là một bộ phận võ trang của Fatah, thành lập từ năm 1983, hoạt động riêng rẽ theo Tổ, với các thành viên tuổi từ 18-35. Tanzim hiện có nhiều ngàn người tham dự, trà trộn vào các trại tị nạn Palestine, để xách động biểu tình, chống lại Do Thái khắp mọi nơi.
- AL AQSA : Cũng là một bộ phận của tổ chức Fatah, thành lập từ năm 2002 với những thành viên dám tử vì đạo. Không như tổ chức Hamas và Jihah Hồi giáo cực đoan, lực lượng Al-Aqsa chuyên sử dụng phụ nử mang bom tự sát. Lãnh tụ của nhóm này là Nasser Awais luôn luôn di chuyển trốn lánh màn lưới truy sát của cơ quan tình báo Do Thái.

+ Các Tổ Chức Vũ Trang của Hồi Giáo :

            Hiện có tổ chức Hamas và Jihah chuyên tổ chức đánh bom tự sát. Hamas giờ đang nắm chính quyền Palestine, đuợc thành lập từ tháng 12-1987 do giáo sĩ Ahmas Ismail Yassine cầm đầu. Bắt chước theo mô hình các tổ chức Hồi giáo cực đoan tại Ai Cập, Hamas luôn chủ trương dùng mọi hình thức bạo động gọi la “ợ thánh chiến “ để chống lại Do Thái tại các khu vực định cư ở Tây Ngạn Jordan, dãi Gaza và ngay trong lãnh thổ của Irael.

            Chính tổ chức này đã làm suy yếu quyền lực của Tổng thống Arafat, cuối cùng cướp được chính quyền qua hình thức bầu cử khi Arafat qua đời tại Pháp. Tổ chức này nhiều lần bị quân đội Do Thái tiêu diệt nhưng sau đó phát triển lại rất nhanh, nhờ sự tài trợ của Hồi giáo. Ðây là lực lượng đối chọi với PLO, qua giải phap hòa bình do Arafat chủ xướng, cũng như thừa nhận quốc gia Do Thái.

            Bộ phận võ trang của Hamas là Ezzeddin el-Qassem, hoạt động độc lập với cơ quan lãnh đạo trung ương, gồm các thành phần quá khích, chuyên mang bom trong mình để tự sát, tại các đô thị và khu vực định cư của Do Thái. Hamas được nuôi dưởng bằng sự tài trợ của Iran, từ tiền bạc tới vũ khí, chuyên chở bằng đường biển tới Gaza. Với tổ chức khủng bố Al-Qaeda của Bin Laden, tổ chức Qassem tuyên bố không quan hệ, tuy cả hai cùng quan điểm thánh chiến .

            Còn tổ chức Jihah Hồi giáo được thành lập năm 1980 tại Gaza sau khi Khomeni làm chủ Ba Tư. Tổ chức này tuy ít người hơn Hamas nhưng rất thiện chiến và có liên hệ với tổ chức Hồi giáo cực đoan Hezbollah ở Lebanon. Hiện Jihah Palestine do Ramadan Chalah chỉ huy, có một tổ chức khủng bố bí mật là Qassem.

            Tuy cùng là dân Palestine nhưng ngày nay đã có sự phân hóa trầm trọng giữa ba tổ chức vũ trang PLO, Hamas và Jihad. Sách lược muốn tóm thu Hội đồng tự tri Palestin, tổ chức Fatah va Tanzim của Hamas , thật sự đã thất bại. Chẳng những thế, Hamas còn bị Tây Phương gần như cắt đứt mọi viện trợ khi nắm được chính quyền Palestine. Ðây chính là một trong những lý do dẫn đến cuộc chiến tranh đang diễn ra giữa Do Thái-Palestin và tổ chức Hồi giáo cực đoan Hezbollah ở miền Nam Lebanon.

+ Hezbollah : Ðược thế giới xếp vào nhóm khủng bố Hồi giáo cực đoan. Thật sự như nhóm khủng bố Hamas, đây là đứa con hoang của Phái Hồi giáo cuồng tín Ba Tư Shiite, được Khomeni cho thành lập tại Lebanon từ năm 1982 và sống còn bằng sự nuôi dưởng trực tiếp từ Ba Tư và Syria, với trợ cấp hiện kim hằng năm hơn trăm triệu đô la Mỹ. Tuy hình thức chỉ là Dân Quân Du Kích Hồi giáo nhưng Herbollah được Iran, Syria kể cả Trung Cộng và Liên bang Nga trang bị toàn cac loại vũ khí tối tân, trong đó nguy hiểm nhất là các loại hỏa tiển tầm ngắn lẩn tầm dài ( từ 45 ố 200 km ) như Fajr-3, Fajr-5, Zelzal-2.. Tóm lại , khủng hoảng Trung Ðông ngày nay đều do hai tổ chức Hamas và Hezbollah châm ngòi, qua đạo diễn Syria và Ba Tư dàn dựng.

2 -CHIẾN LƯỢC HÒA BÌNH TRUNG ÐÔNG CỦA HOA KỲ :

            Từ năm 1978 tới nay, đã có không biết bao nhiêu người chết vì hòa bình Trung Ðông, trong đó có Tổng Thống Ai Cập Sadate và Thủ tướng Do Thái Rabin. Lịch sử đã không lập lại một nền hòa bình thật sự mà Do Thái và Ai Cập đã đạt được năm 1982, qua những cuộc đi đêm, đàm phán, bắt tay giữa hai dân tộc thù nghịch đang cùng đối mặt trên vùng đất Palestine. Máu lại bắt đầu đổ vào năm 2000, sau cuộc thương lương 14 ngày tại trại David thất bại. Cuộc thăm viếng của tân Thủ tướng Do Thái Sharon tại Ðồi Ðền ở Jerusalem, châm ngòi cho một trận chiến mới, tiếp diển suốt 72 năm qua, kinh hoàng trong cảnh Palestine nổ bom cùng chết và thương tâm nhìn tăng pháo Do Thái tan sát không nhân nhưọng.

+ Tại thủ đô Olso, Na Uy năm 1993 :

            Sau bao nhiêu lần đi đêm, cuối cùng Chủ tịch tổ chức giải phóng Palestine (PLO) Yasser Arafat và Thủ Tướng Do Thái Itzhak Rabin cũng đã thỏa thuận với nhau về một tiến trình hòa bình . Hiệp định trên được gọi là Olso, đưọc hai phía kỳ kết vào ngày 13-9-1993 tại Toà Bạch Ốc (Hoa Kỳ), với sự ký kết giữa hai phía, qua đó Do Thái phải rút khỏi Gaza và thành phố Jéricho ngày 13-12-1993, chuyển giao quyền hành chánh cho nhà nước Palestine để nước này lập quốc hội ngày 13-7-1994.

+ Tại Le Caire năm 1994 :

            Ngày 4-5-1994, Palestine và Do Thái lại ký hiệp định Le Caire, ấn định thời hạn cuối Do Thái phải rút hết quân ra khỏi Palestine là năm 1999, ngoài ra còn có các vấn đề người tị nạn, biên giới nhưng nhức nhối nhất vẫn là chủ quyền tại Jerusalem, mà hai phía đều dành.

+ Olso II năm 1995 :

            Năm 1995, Do Thái và Palestine lại ký hiệp định Olso II tại Ai Cập và phê chuẩn ở Hoa Kỳ, chung qui cũng chẳng có gì mới mẻ so với các hiệp ước cũ . Sự kiện càng rắc rối thêm khi Benyamin Netanyahu, người từng chỉ trích hiệp ước hòa bình Olso lại đắc cử Thủ Tướng Do Thái.

            Rồi tiếp theo hai phía lại ký thêm các hiệp ước Hébron 1997, Wye river 1998, Chaarm el-Cheikh 1999.. cuối cùng bị khựng lại vì các điểm bất đồng không thể khai thông được, đó là vấn đề người tị nạn Palestine, hiện có chừng 3,5 triệu người đang sống trong các trại tị nạn khắp Trung Ðông, hoặc phải đưọc trở về nguyên quán hay nhận tiền bồi thường thay thế. Thứ đến là việc thành lập quốc gia Palestine và sau cùng là khu định cư người Do Thái trong đất Palectine và chủ quyền tại Thánh địa Jerusalem.

            Ngày 5-7-2000, Hoa Kỳ đích thân tổ chức một hội nghị thượng đỉnh giữa Thủ tướng Do Thái là Ehoud Barak và Chủ tịch Palestine Arafat tại trại David, nơi nghĩ mát của Tổng thống Mỹ tại Maryland. Hội nghị kéo dài 14 ngày trong bí mật, có sự tham dự của Tổng Thống Mỹ là Bill Clinton và Ngoại Trưởng Albrigh, nhưng mọi cố gắng dàn xếp vẫn không kết quả, do trên hai phía không ký kết một hiệp ước nào.

             Sau đó ngày 25-7-2000, Hoa Kỳ đã chính thức thông báo về cuộc họp thượng đỉnh giữa Hoa Kỳ-Do Thái-Palestine, gôm 5 điểm trong đó quan trọng nhất là nhắc Do Thái và Palestin phải tuân hành theo các nghị quyết 242 và 338 của LHQ cũng như hai nước trên muốn có hòa bình vĩnh cửu, phải có sự đồng thuận của Hoa Kỳ..

            Từ đó đến nay, chiến tranh lại tiếp diễn dử dội , khiến cho ngày nào cũng có người chết, đa số là thường dân vô tội của cả hai phía, mà thảm nhất vào ngày 22-6-2002, ba trẻ em Palestine và mười mấy học sinh Do Thái chết trong đan thù, vì bắn nhau và bom tự sát.

            Cuối cùng Arafat tuyên bố với Do Thái chấp nhận “ chủ quyền khu Jewish ở cổ thành Jerusalem và bức tường phía tây “ đồng thời không “ đòi hỏi hồi hương 4 triệu người Palestine tị nạn “ nhưng vẫn “ duy trì việc hồi cư gần 300.000 người Palestine “ tại Liban. Tất cả đều là kế hoạch của TT Clinton năm 2000. Ngoài ra, Hoa Kỳ nhất quyết “ đổi ngựa “ giữa đường, bất chấp sự phản đối của Ai Cập, Liên Âu, Nga và nhiều nước Hồi giáo . .

            Bắt tay nhau để cam kết xoá bỏ hận thù giữa hai dân tộc và hòa bình toàn vùng, hai ông : Rabin (bị ám sát chết) và Arafat (bị làm con vật tế thần), dù thất bại nhưng muôn đời Họ vẫn là anh hùng và ít nhát hai người cũng đã thật tình tôn trọng tư cách lẫn nhau. Còn Lê đức Thọ và Kissinger cũng bắt tay nhưng chỉ để biểu lộ sự chiến thắng “ một canh bạc bịp “ vì cả hai đã gạt đưọc hết mọi người khắp thế giới.

+ Chiến Dịch Hoàng Hôn Hay Cuộc Rút Quân Khỏi Lebanon ngày 23-5-2000 Của Do Thái

            Sáng ngày 23-5-2000, Thủ tướng Do Thái Ehoud Barak chính thức tuyên bố đơn phương rút quân đội Do Thái ra khỏi Nam Lebanon, sau 22 năm chiếm đóng vùng trái độn giữa biên giới hai nước. Cuộc rút quân đã trở nên hổn loạn, khi có hơn 2500 người gồm binh lính của quân đội Nam Lebanon (SLA) cùng gia đình, chạy sang Irael xin tị nạn.

            Tại Lebanon từ năm 1976 có hơn 2500 quân sĩ thuộc quân đội Lebanon, đã ly khai chính phủ trung ương và theo quân Do Thái từ năm 1984. Lực lượng trên được gọi là SLA, gồm nhiều thành phần hổn tạp, trong đó có 1500 quân Hồi giáo Chiite, quân theo Thiên Chúa giáo, quân thuộc Bộ tộc Druze và quân Hồi giáo Sunnite.

            Tháng 3-2000 được tin quân Do Thái sắp rút, tinh thần của đạo quân SLA xuống thấp và đã rút khỏi hai cứ điểm quan trọng. Nhiều binh sĩ trong số này có cả Tiểu đoàn trưởng Emile Nasser ra đầu hàng chính phủ Lebanon. Trong lúc đó, quân đội SLA hy vọng chính phủ Do Thái sẽ bảo trợ cho họ,khi đã rút hết về nước.

            Ðể chuẩn bị, Bộ TTM Do Thái đã soạn thảo hai kế hoạch lui quân mang tên “ Chân trời mới “ , trường hợp đạt được thỏa thuận với Syria và chiến dịch “ Hoàng Hôn “ khi Do Thái đơn phương triệt thoái. Trong thời gian chờ đợi, quân Do Thái được lệnh cố thủ nên lực lượng SLA trở thành mục tiêu tấn công của quân Hezbollan. Cùng lúc LHQ ra lệnh cho Do Thái khi triệt thoái, phải thu hồi lại tất cả xe tăng, đại pháo .. đã cấp cho SLA sử dụng, vì sợ có cuộc đụng độ giữa SLA và quân Mũ Xanh của LHQ (UNFIL) tới thay thế quân Do Thái, trấn đóng vùng trái độn.

            Ngày 21-5-2000, dù Do Thái chỉ lên tiếng sẽ rút quân theo đúng hạn định 7-7-2000 thì Lực lượng SLA tại miền Nam Lebanon đã tan rã. Mặc cho thủ lãnh của Hezbollah là giáo sĩ Hassan Nasrallah kêu gọi đầu hàng với cam kết không trả thù, nhưng phần lớn lực lượng SLA cùng gia đình, bằng đủ mọi phương tiện chạy vào lãnh thổ Do Thánh lánh nạn.

            Trước sự rả ngũ nhanh chóng của SLA, quân Do Thái bắt buộc phải triệt thoái gấp về nước, bỏ mặc cho số phận của một phần lực lượng SLA, gồm cánh quân Thiên Chúa Giáo và Bộ Tộc Druze, đang cố cầm cự với quân Hezbollah, suốt đêm 22-5-2000.

            Tới sáng ngày 24-5-2000 coi như kết thúc chiến dịch “ Hoàng Hôn “, khi ra lệnh đóng cửa ải 93 thông thương giữa hai nước. trong lúc đó hàng ngàn dân Lebanon và quân SLA vẫn vượt biên sang tị nạn tại Do Thái. Tóm lại kế hoạch của Thủ tướng Do Thái Ehoud Barak là khi quân Irael rút, thì quân UNFIL ở Lebanon sẽ tới tiếp thu vùng trái độn nhưng cuối cùng bị thất bại và vùng này đã lọt vào tay quân Hezbollah, nên quân LHQ chỉ còn có nhiệm vụ giúp người tị nạn tại biên giới hai nước mà thôi.

            Theo Nghị quyết 425 của LHQ năm 1978, đã có 4505 quân thuộc lực lượng giữ gìn hòa bình (UNFIL) tới Lebanon. Ðạo quân mũ xanh này thuộc 9 nước gồm Ba Lan (630 người), Ghana (570), Ấn Ðộ (560), Nepal (550), Ái Nhĩ Lan (530), Fidji (530), Phần Lan (450), Pháp (250) và Ý Ðại Lợi (45).

            Nhiệm vụ của quân LHQ tại Lebanon, chỉ đơn thuần là gở mìn và làm công tác nhân đạo. nên không can thiệp vào cuộc chiến ở đây. Trong nhiều năm qua, quân LHQ có mặt trong khu vực nhưng chẳng làm được tích sự gì, ngoài việc tiêu phí hằng tỷ đô la tiền của thế giới đóng góp. Bởi vậy không trách các nước coi tổ chức này, giá trị và thực chất không đáng “ một đô la “, nên chẳng được ai tín nhiệm.

3- BẢN ÐỒ MỚI TẠI TRUNG ÐÔNG VÀ CUỘC CHIẾN HIỆN TẠI :

            Qua nhiều lần thương thuyết bàn cải, trong lúc chiến tranh vẫn tiếp diễn không ngừng tại Trung Ðông. Cuối cùng ngày 14-4-2002, ngoại trưởng Mỹ là Colin Powell và Tổng thống Palestin Yasser Arafat, chịu ngồi vào bàn hội nghị, để thương lượng, phân định chủ quyền của hai nước đang tranh chấp trên vùng đất Palestine.

            Yếu tố tiên quyết đầu tiên mà Hoa Kỳ cần có là sự ngưng bắn, để tạo nguồn tin cho cả hai phía. Một điều mà ai cũng cho rằng Hoa Kỳ không làm được dù Arafat có hứa hẹn, vì suốt 19 tháng qua, cơn lốc Intifada (Nổi dậy) với màn đánh bom tự sát bên phía Palestine, được phe cực hửu Do Thái (qua Thủ tướng Ariel Sharon) đáp ứng không nhân nhượng, rồi còn được phụ họa thêm bởi cái đám Hồi giáo cực đoan Hamas, Jihad Hồi giáo Ba Tư..). Tất cả là những hạt nhân đã làm tiêu tan hết chiến lược hòa bình Trung Ðông, mà LHQ, Liên Âu và Hoa Kỳ, bỏ công sức và tiền bạc xây dựng từ trước tới nay vẫn đang tiếp tục.

            Theo đề nghị của Arab Seoui, được tất cả các nước trong Liên minh Ả Rập đồng ý chọn giải pháp “ Ðó là Do Thái phải rút khỏi các vị trí đã chiếm đóng trong cuộc chiến 1967 “.Ðổi lại Do Thái sẽ được toàn khối Ả Rập công nhận như một quốc gia hiện hửu trong vùng.. Ðiều này cũng được áp dụng cho quốc gia Palestine.

            Ðể đạt được thành quả trên, các nước liên hệ phải giải quyết cho xong bốn trở ngại :
1- Biên giới nước Palestine ra sao. 2- Giải quyết thế nào về những khu vực định cư của người Do Thái, lập trên lãnh thổ của Palestine. 3- Jerusalem có bị phân chia để làm thủ đô của Palestine. 4- Số phận của người tị nạn Palestine ở Trung Ðông.

            Thật ra bốn vấn đề này đã được đề cập tại Hội nghi Olso, nhưng bị phá vở sau khi Thủ tướng Do Thái Yitzhak Rabin bị ám sát. Ngày 28-9-1995, Palestine và Do Thái đã ký tại Tòa Bạch Ốc “ tạm ước Olso-2 “, dầy 400 trang xác nhận quốc gia Palectine tự trị tại các thành phố Bethlehem, Jenin, Nablus, Qalqilva, Ramallah , Tulkarm, một phần Hebron và 450 ngôi làng. Trong khi Do Thái có quyền giám sát những khu định cư của dân nước mình.

            Năm 1998, TT Palestine là Yasser Arafat và Thủ tướng Do Thái Benjamin Netanyahu, lại họp thượng đỉnh 9 ngày tại Wye Mills (Maryland) có TT Bill Clinton tham dự. Hai bên đã đạt được thỏa thuận về kế hoạch chung trong việc chống khủng bố. Quan trọng nhất là là lời hứa của Irael sẽ rút quân thêm 13,1% lảnh thổ tại Tây Ngạn, mở cho Palestine một sân bay tại Gaza. Tiếp theo vào ngày 13-9-1999, Thủ tướng Do Thái Ehud Barak lại ký thêm với Arafat, bản giao ước bổ sung những thỏa thuận Wye “ Ðó là việc hai phía cùng đồng ý chọn ngày 13-9-2000, là thời hạn cuối cùng ký một Hiệp ước Hòa bình chung cuộc.

            Ðể bổ túc những gì còn lại chưa được giải quyết ổn thỏa của hai phía, TT Mỹ Bill Clinton đã đề nghị một bản đồ mới cho hai nước Do Thái và Palestine “ Ðó là Palestine sẽ lấy lại từ 94-96% lảnh thổ của mình tại Tây Ngạn, phần đất phía đông Jerusalem (ngoại trừ các quận có người Irael) và các quận của người Ả Rập “.Về việc hồi cư người tị nạn Palestine tại các nước lân cận, sẽ thi hành theo các nghị quyết của LHQ có từ trước. Theo đó, họ có quyền hồi hương nhưng về Palestine chứ không phải đất cũ đã thuộc Do Thái.

            Nhưng Jerusalem mới chính là trở ngại lớn nhất. Năm 1967 Do Thái chiếm phía đông thánh địa này và thiết lập ranh giới hành chánh từ ấy đến nay. Theo thỏa ước Taba, hai phía đã đồng ý coi Jerusalem là thủ đô chung,: Phần thuộc Do Thái được gọi là Yerushalaim. Còn phía lảnh thổ thuộc Palestine là thủ đô Al-Quds. Tại thánh địa, Do Thái sở hữu Bức Tường Than Khóc . Khu Núi Ðền linh thiêng, theo đề nghị của TT Clinton, phần trên đồi thuộc Palestine, phía dưới của Do Thái.

            Cuối cùng vì lý do nhân đạo, Do Thái chịu nhận 25.000 người Palestine có thân nhân đang sống tại Do Thái. Tóm lại, tất cả những cố gắng trong và ngoài nước suốt mấy chục năm qua, cho thấy sự khủng hoảng tại Tiểu Á giữa hai dân tộc Do Thái và Palestine, mang nhiều hy vọng được giải quyết. Tiếc thay tất cả đã bị Ba Tư và Syria nhúng tay phá vở, mà hậu quả ngày nay là nổi đau đớn cùng tận vì bom đạn của ba dân tộc Irael-Palestine và Lebanon, không biết tới bao giờ mới chấm dứt.

            Chiến tranh lại bộc phát ngày 25-6-2006, giữa quân đội Do Thái và Lực lượng Hồi giáo quá khích Hamas đang nắm chủ quyền Palestine tại Gaza. Tiếp theo ngày 12-7-2006 là cuộc chiến giữa Irael và Hezbollah. Vì không còn có thể nhường nhịn được, trước hành động quân sự khiêu khích, cũng như sự nhục mạ và hăm dọa công khai của Ba Tư trên diễn đàn quốc tế. Bởi vậy Do Thái đã phản ứng, qua hai cuộc tấn công cùng lúc, nhằm vào lực lượng Hamas trong lảnh thổ Palestine và dân quân du kích Hezbollah có sào huyệt tại miền nam Lebanon, sau tháng 5-2000 khi quân đội Ly khai Lebanon (SLA) và Do Thái triệt thoái.

            Cuộc đụng độ giửa ba phía suốt mười mấy ngày qua, nhât là mặt trận phía Nam Lebanon rât ác liệt và kinh khiếp, vì Do Thái đã xử dụng cả Hải Lục Không Quân cả Hàng Không Mẫu Hạm để tấn công, quyết tâm tiêu diệt cho được “ Hai Nhóm Khủng Bố “ tàn bạo nhất tại Trung Ðông hiện nay, vì Do Thái đã thề là sẽ sử dụng kho “ Bom Nguyên Tử “ của mình, để tiêu diệt Ba Tư cũng như bất cứ ai làm hại đến đất nước mình.

            Hậu quả của cuộc chiến này, trước nhất là sự tan nát đổ vở tại LebanonPalestine, cùng với một vài thành phố phía Bắc của Do Thái. Ðã có hơn vài trăm người bị thương vong, đa số là thường dân vô tội. Thủ đô Beirut của Lebanon đắm chìm trong biển lửa, người người từ dân địa phương tới ngoại kiều, đều tìm đường di tản để tránh chết chóc. Trong lúc đó, quân Do Thái tiến vào đất Lebanon như chớn không người, với quyết tâm đuổi tận giết tuyệt Hezballlah và không dấu ý định sẽ truy sát tận Syria, nếu nhóm khủng bố này trốn vào đây. Riêng trùm nhóm khủng bố Hezbollah là Sayyed Nasrallah may mắn chạy thoát, lúc biệt thự bị bom san bằng.

            Ở phương Nam, quân Do Thái tàn phá không chừa thứ gì, đồng thời phong tỏa hết mọi ngõ ngách.. khiến cho người dân vô tội Palestine mới vừa vui được chút chút, thì nay trắng tay và toi mạng. Trước tình trạng thê thảm này, LHQ, Liên Âu và Liên Minh Ả Rập cũng bó tay bất lực, vì ai cũng biết, chính Hamas và Hezbollah đã dồn Do Thái vào chân tường, nên họ phải hứng hậu quả là cái chắc. Ở Trung Ðông suốt 72 năm qua, cứ mỗi lần có khủng hoảng giữa Do Thái và Ả Rập, đều có màn “ cúp dầu “ để áp lực Mỹ đừng can thiệp và nhúng tay . Nhưng lần nào cũng vậy Hoa Kỳ cứ can thiệp, vì biết đất đai Ả Rập toàn là cát cháy, nên chỉ sống bằng nguồn dầu, nếu cúp lấy tiền đâu để sống ?. Rốt cục đâu lại vào đó.

            Còn một yếu tố khác mà Do Thái và Hoa Kỳ nắm được để hành động, đó là ở Trung Ðông, bất cứ nước Hồi Giáo nào cũng đều ghét Ba Tư, cho nên kỳ này thấy Do Thái thay họ, tiêu diệt những đứa con hoang Hamas và Hezbollah của Iran.. ai cũng hả dạ dù ngoài mặt vẫn to tiếng phản đối.hành.

            Hòa bình Trung Ðông chỉ là sự tạm bợ, chẳng những vì dầu mà còn sự hận thù tôn giáo và chủng tộc, giữa các sắc dân Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Ả Rập, Do Thái và Kurd. Nên chiến tranh cứ đến là điều tự nhiên, cho dù không có quốc gia Do Thái hiện hữu, thì vẫn có ngàn muôn lý do khác để mà gây chiến. Bởi vậy việc Ngoại trưởng Condoleezza Rice trước đó hay bà Clinton mới đây tới Trung Ðông, chẳng qua cũng chỉ để thương lượng các phe Do Thái, Palestine và Lebanon, về một giải pháp thuận lợi, trong việc cứu trợ các nạn nhân chiến tranh , đang cần giúp đở. Nên việc Do Thái tiếp tục “ xây dựng các làng định cư trên đất chiếm được “ hay “ Palectin đòi lấy Jerusalem làm thủ đô “ chẳng qua là một cái cớ, để hai phía theo đuổi chiến lược của mình.

            Ðây cũng là một bài học lịch sử mới nhất, đáng để cho Trung Cộng, Nga, Bắc Hàn và CSVN học, để chuẩn bị nhận “ quả báo “ vì hiện nay khắp thế giới, nói tới Tàu đỏ, Bắc Hàn kể VC ai cũng thù ghét và mong chúng sớm bị tiêu diệt -/-

Từ Xóm Cồn Hạ uy Di
Tháng 11-2010
MƯỜNG GIANG

Wednesday, December 1, 2010

LẠM PHÁT: TRUNG QUỐC BÍ LỐI




Tình trạng Lạm phát, Vật giá tăng vọt tại Trung quốc làm cho các Lãnh đạo lo sợ, không những cho nền Kinh tế, mà nhất là cho những xáo trộn xã hội đưa đến nguy ngập cho Chính trị.
 
Theo Kinh tế gia Wang Tao, làm việc cho UBS tại Bắc Kinh, trước những đề nghị của các Chuyên gia quốc tế về những Biện pháp Tài chánh, Tiền tệ để giải quyết Lạm phát và tăng vật giá, Bắc Kinh vẫn từ chối những biện pháp ấy vì sợ nguy hiểm xẩy đến cho những Kỹ nghệ xuất cảng và lo lắng nạn thất nghiệp cho chục triệu nhân công:
 
«Pékin, malgré les pressions intenses de ses partenaires commerciaux, refuse toute hausse importante qui mettrait en danger ses industries exportatrices et des dizaines de millions d'emplois.» (PEKIN, 24 nov 2010 (AFP) (Par Boris CAMBRELENG)
 
(Bắc Kinh, mặc dầu những áp lực của những bạn hàng thương mại của mình, từ chối mọi việc tăng lên quan trọng (như lãi suất, tỷ giá đồng yuan) có thể đưa đến nguy hiểm cho những kỹ nghệ xuất cảng và cho những chục triệu công nhân).
 
Trong bài này, chúng tôi trình bầy những lý do Lạm phát và sự khó khăn chống Lạm phát tại Trung quốc.
 
 
Những lý do Lạm phát (Inflation)
 
1)      Lý do Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bị thổi phồng gây ra Lạm phát, vật giá tăng vọt (Inflation).
 
Ba nguồn làm thổi phồng Khối Tiền lưu hành như sau:
 
a)       Biện pháp Quantitative Easing $600 tỉ để mua Treasury Bonds  nhằm hạ lãi suất dài hạn khiến những khối vố đầu tư quốc tế đổ dồn vào các nước Á châu, nhất là Trung quốc để kiếm lợi nhuận cao hơn.
 
«L’afflux de capitaux étrangers (spéculatifs), líe notamment à la stratégie monétaire extrêmement souple menée par la Réserve Fédérale américaine (FED), a renforcé cette tendance » (Le Monde 19.11.2010, page 1)
 
(Làn sóng những vốn đầu cơ từ ngoài vào, liên quan chính yếu đến chiến thuật tiền tệ cực kỳ mềm dẻo chủ trương bởi Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED), đã tăng cường khuynh hướng này (vật giá tăng vọt))
 
b)      Nhằm giữ đà tăng trưởng Kinh tế cũ, Nhà nước Trung quốc đã xuất quá nhiều vốn cho các Công ty nhà nước.
 
Năm 2009, Nhà nước bơm vốn cho các Công ty trong năm 2009 là Rmb9’600 tỉ ($1’450 tỉ):
 
“Bank lending ballooned to a record Rmb9’600bn ($1’450bn) as China rushed to reflate its economy after the financial crisis” (Financial Times 22.11.2010, page 2)
 
(Ngân hàng cho vay thổi phồng vốn cho vay kỷ lục Rmb9’600 tỉ ($1’1450 tỉ) trong năm 2009 khi Trung quốc vội vàng phát động Kinh tế sau cuộc Khủng hoảng Tài chánh)
 
c)      Nhưng số vốn quan trọng là các Ngân Hàng Thương mại đã ngầm cho các Công ty vay mà chính Nhà nước không kiểm soát được. Tiến sĩ James KYNGE gọi đây là hệ thống Tài chánh đường hầm “subterranean world of finance “ hay “underground financial system “.
 
Theo những con số cung cấp từ Use-Trust, một Tổ chức Tư vấn Kỹ nghệ, thì số vốn ngầm rót ra trong hai Tam Cá Nguyệt 2 và 3 tổng cộng là Rmb3’934.13 tỉ ($624.46 tỉ):
 
“According to Use-Trust, a trust industry consultancy, the volume of bank trust lending conducted off the balance sheets of banks totalled Rmb2’005.26bn ($318.29bn) in the third quarter of this year, up from Rmb1’928.87 ($306.17bn) in the second quarter” (Financial Times 22.11.2010, page 2)
 
(Theo Use-Trust, một Tổ chức Tư vân Kỹ nghệ, thì số lượng vốn ngân hàng cho vay ngoài bảng cân đối kế toán tổng cộng là Rmb2’005.26 tỉ ($318.29 tỉ) trong Tam cá nguyệt thứ ba của năm nay và Rmb1’928.87 tỉ ($306.17 tỉ) trong Tam cá nguyệt thứ hai)
 
Ngay những ngân hàng nhà nước cũng cho vay đường hầm vì là cơ hội tham nhũng, ăn hối lộ. Mặc dầu dưới sự kiểm soát của Ủy Ban Điều Chỉnh Ngân Hàng Trung quốc, những Ngân Hàng nhà nước cũng đi đường hầm cho vay chui. Con số cho vay chui lên tới tối thiểu Rmb2’000 tỉ ($320 tỉ):
 
“The off-balance-sheet lending by state banks this year was said to have reached at least Rmb2’000bn ($320 tỉ) (Financial Times 22.11.2010, page 2)
 
(Số vốn cho vay ngoại bảng can đối kế toán bởi các Ngân hàng nhà nước năm nay được nói đã đạt tới tối thiểu Rmb2’000 tỉ ($320 tỉ)
 
Ba nguồn làm tăng Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) như trên đã tóm tắt đang làm Lạm phát, Vật giá tăng vọt tại Trung quốc:
 
“It is the pressures caused by such ballooning money supply… that are the prime causes of inflation.” (Financial Times 22.11.2010, page 2)
 
(Đó là những áp lực gay ra từ việc cung cấp tiền căng phồng len như vậy đã là những nguyên cớ chính yếu tạo Lạm phát hiện nay.)
 
2)      Lý do khan hiếm thực phẩm
 
Việc lạm phát chính yếu là trên các thực phẩm. Vật giá tăng tổng thể 4.4%, nhưng đặc biệt đối với 18 thực phẩm chính yếu, vật giá tăng trong năm vừa rồi tới 62.4%. Người ta không khó hiểu về lý do tăng giá vọt của thực phẩm. Trung quốc sãn xuất chính yếu những hàng công nghệ (produits manufacturés) nhằm xuất cảng chứ không nhằm phục vụ dân Trung quốc. Về nông nghiệp, nếu sản xuất được gì, thì những Công ty chế biến thực phẩm như đóng hộp, phơi khô, lại cũng nhằm xuất cảng. Do đó thực phẩm ăn liền cho dân chúng bị khan hiếm trong khi ấy Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bị thổi phồng lên. Hậu quả là vật giá thực phẩm tăng vọt tới 62.4%.
 
 
Bí lối cho những Biện pháp chống Lạm phát
 
1)      Những biện pháp cấp thời.
 
Ngày 17.11.2010, Thủ tướng ÔN GIA BẢO đã đưa ra một số biện pháp cấp thời chống Lạm phát (Inflation), như:
 
=>     Kiểm soát giá cả (Controle des Prix), nghĩa là đặt Giá Trần nhà (Prix plafond). Đây là biện pháp sẽ gây tất yếu cho Chợ Đen và Đầu Cơ như thời ở Nga trước đây. Những con buôn Tầu rất lành nghề về Chợ Đen và Đầu Cơ làm thực phẩm càng khan hiếm và Giá hàng luôn luôn theo đà tăng.
 
=>     Từ kho Dự trữ, Nhà nước quyết định cho ra 62’000 tấn thịt heo và 210’000 tấn đường. Nhưng đối với 1 tỉ 300 triệu dân Tầu, thì hai lượng thịt và đường cho ra này chỉ như muối bỏ bể.
 
2)      Những biện pháp Tài chánh
 
Đây là những biện pháp do những nhà Tài chánh, Ngân Hàng quốc tế đề nghị như trong bài của Boris CAMBRELENG mà Anh TUẤN gửi kèm dưới đây cho tôi. Biện pháp Tài chánh này nhằm rút nhỏ lại Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation) bằng (a) Tăng Lãi suất chỉ đạo; (b) Bắt các Ngân Hàng Thương mại tăng Dự trữ tại Ngân Hàng Trung ương. Nhưng những Biện pháp Tài chánh này không dễ dàng thực hiện vì những lý do sau đây:
 
a)      Biện pháp tăng Lãi suất chỉ đạo
 
Nếu dùng Biện pháp tăng Lãi suất chỉ đạo lên để làm cho Giá thuê vốn thành mắc mỏ và do đó các Công ty giảm vay vốn đầu tư, thì Trung quốc lại lo ngại giảm đà Tăng trưởng và tăng Thất nghiệp vì không đầu tư thêm nữa, các Công ty thải thợ.
 
b)      Các Biện pháp làm giảm Khối Tiền lưu hành (Masse monétaire en circulation)    
 
=>     Đối với số vốn đầu cơ quốc tế ập vào do ảnh hưởng của của Quantitative Easing $600 tỉ của FED, thì Trung quốc khó lòng ngăn chặn vì sợ thiếu vốn nước ngoài. Có thể đặt thuế cho số vốn này như trường hợp Ba Tây đã áp dụng từ hai tháng nay để làm giảm việc ập vào của vốn đầu cơ quốc tế.
 
=>     Đối với hệ thống cho vay đường hầm “subterranean world of financ“ hay “underground financial system“, bắt các Ngân Hàng thương mại tăng Dự trữ đặt tại Ngân Hàng Trung ương, thì Trung quốc gặp phải khó khăn là không kiểm soát được số tín dụng đường hầm này. Cái căn nguyên của việc tín dụng đường hầm là tham nhủng, hối lộ. Đây là việc khó khăn thực hiện kiểm soát vì chính Ngân Hàng Nhà nước cũng tham nhũng, hối lộ để cho vay vốn đường hầm.
 
Lạm phát, vật giá tăng vọt, nhất là cho giới công nhân, nông dân chiếm đại đa số dân Trung quốc, làm cho các Lãnh đạo Tầu phải hết sức lo ngại. Họ lo ngại bởi lẽ khối đại đa số dân nghèo, thiếu ăn vì vật giá thực phẩm tăng 62.4%, sẽ rất dễ làm bạo loạn xã hội để đưa đến hậu quả Chính trị.
 
Cách đây 3 năm, nhân vật giá thực phẩm Thế giới tăng, Ong Jacques DIOUF, Tổng Giám đốc FAO của Liên Hiệp Quốc, nói về hậu quả BẠO LOẠN quần chúng từ  Lạm phát lên Chính trị:
 
”Si les prix continuent à augmenter, je ne serais pas surpris que l’on assiste à des émeutes de faim.“
 
(Nếu vật giá tiếp tục tăng, tôi không ngạc nhiên về việc người ta phải chứng kiến những cuộc nổi dậy vì đói).
 
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 30.11.2010

Sunday, November 28, 2010

BOM NGUYÊN TỬ : CƠN ÁC MỘNG CỦA NHÂN LOẠI



           
Bom Nguyên Tử hiện nay đã trở thành mối lo ghê gớm với nhân loại, vì sự tàn phá của nó còn kinh khiếp gấp vạn lần, nếu đem so sánh với hai trái bom đầu tiên mà Hoa Kỳ đã thả xuống Nhật Bản vào những ngày cuối của Thế Chiến 2. Hiện các nhà quân sử thế giới đã chia lịch sử chế tạo và xử dụng vũ khí ‘ giết người này ‘ thành ba giai đoạn :

            - Giai đoạn 1 : 1945-1948, Hoa Kỳ độc quyền bom nguyên tử và chấm dứt vào năm 1949, khi Liên Xô thử nghiệm và thành công chế tạo được quả bom đầu tiên.

            - Giai đoạn 2 : Thời kỳ chiến tranh lạnh có 5 cường quốc Bom Nguyên Tử gồm Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Cộng. Tuy nhiên chỉ có Mỷ và LX tồn trử nhiều nhất, ba nước còn lại, nhất là Tàu đỏ có số lượng bom không đáng kể.

            - Giai đoạn Hiện tại : Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt , các cường quốc nguyên tử thuộc hai khối đã thỏa thuận cắt giảm một số lượng vũ khí chiến lược. Trong lúc đó các nước Do Thái, Ấn Ðộ, Hồi Quốc , Bắc Hàn và Ba Tư.. lại tăng cường chế tạo Bom Nguyên Tử, bất chấp lời cảnh cáo của Hội Ðồng Bảo An LHQ. Riêng Nhật Bản, Nam Hàn và Ðài Loan có nhiều Plutonium đã tinh chế, có thể làm được hằng trăm trái bom NT bất cứ lúc nào nếu họ muốn.

            Trước năm 1975, VNCH cũng đã có Lò phản ứng Nguyên Tử tại Ðà Lạt nhưng bị Mỹ kềm kẹp nên chỉ hoạt động như là một cơ sở thực nghiệm, dù tài liệu bí mật sau này cho biết khi rút về nước, Hoa Kỳ cũng đã lấy hết các thỏi Plutonium đã tinh chế ở trong lò.

            Vì sợ Hoa Kỳ sẽ dùng bom nguyên tử tấn công các nước trên như đã từng làm với Nhật, sẽ gây nên Thế Chiến 3 nên nhiều quốc gia đã vận động ngoại giao, để ký các Hiệp Ước “ Ngăn Cấm và Kiểm Soát “ việc chế tạo vũ khí Nguyên Tử (MTCR), ra đời lần đầu tiên vào tháng 4-1987 có 7 nước đã ký kết Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Ðức, Nhật,Ý và sau đó có 26 nước tham dự. Theo Hiệp Ước trên, cấm các nước chuyển giao cũng như chế tạo loại Hỏa Tiển tầm xa 300km, mang đầu đạn Nguyên Tử 500 cân Anh.

             Tuy nhiên Hiệp Ước trên chẳng được ai thi hành trong đó có Pháp và Trung Cộng. Ngang ngược nhất là Pháp bất chấp sự phản đối của thế giới, từ tháng 9-1995 tới tháng 5-1996 Tổng thống Pháp là Jacques Chirac, đa cho tiến hành tám cuộc thử nghiệm Bom Nguyên Tử, trên Quần Ðảo Mururou, bằng một ống đào ngầm sâu 1000 m dưới đáy biển. Theo các nhà khoa học, sức nổ của các cuộc thử nghiệm trên tương đương với 20.000 tấn TNT, trong lúc hai trái bom mà Mỹ đã thả xuống Nhật vào năm 1945, chỉ có sức tàn phá tương đương với 15.000 tấn TNT.

             Bởi vậy đâu có trách đã có tới 10 nước khác, cũng bắt chước Pháp và Tàu đỏ, ngấm ngầm sản xuất các loại Hỏa Tiển Ðạn Ðạo Chiến Thuật hay Chiến Lược. Như vậy trên thế giới ngày nay ngoài 5 cường quốc nguyên tử, còn có thêm các nước Do Thái, Ba Tư, Saudi Arab, Pakistan, Ấn Ðộ, Bắc Hàn.. đã có loại Hỏa Tiển tầm xa 1000km. Riêng Do Thái, Ấn, Hồi và Bắc Hàn còn có thêm Bom Nguyên Tử. Ðó cũng là lý do mà Hoa Kỳ và Nhật Bổn, đã ký thỏa hiệp triển khai “ Hệ Thống Hoả Tiền Chống Hòa Tiển “ sau nhiều lần thử nghiệm rất thành công, nhằm bảo vệ lãnh thổ Nhật Bổn, Hoa Kỳ, ngăn chống các loại Hỏa tiển tầm xa mang đầu đạn NT của Trung Cộng, Bắc Hàn kể cả Nga tấn công bất cứ lúc nào . Chính điều này đã làm cho Nga và Tàu điên tiết, nên cùng liên kết xúi Bắc Hàn và Ba Tư đem vấn đề Bom Nguyên Tử hù dọa thế giới, để cho Hoa Kỳ và Nhật phải xét lại sự hợp tác trong Kế Hoạch “ La Chắn Phòng Thủ “ nhưng chẳng những kế hoạch này đã thực hiện tại Nhật, mà mới đây Mỹ cũng thành công trong việc thuyết phục Khối Nato cài đắt Lá Chắn tại ba nước Ba Lan, Lỗ Mã Ni và Thổ Nhĩ Kỳ.

            Chiến tranh lạnh kết thúc, dẫn tới các hiệp ước giảm thiểu và tiêu hủy vũ khí nguyên tử Nhưng hậu quả của nó để lại, trong đó có việc đem một số lượng lớn chất Plutonium thừa thải, lén lút bán ở chợ trời, đâu có ai ngăn cấm được ?

            Theo thống kê, chỉ trong thời gian chiến tranh lạnh, thế giới đã sản xuất tới 110.000 đầu đạn nguyên tử. Về dự trử chất phóng xa Plutonium, Mỹ và Nga, mỗi nước có 50 tấn. Ðây là vấn đề nan giải, trong việc kiểm soát hay ngăn cấm chế tạo Bom Nguyên Tử. Bởi vậy vào tháng 4-1996 trong cuộc họp thượng đỉnh G7 + Nga tại Mạc Tư Khoa, bàn về vấn đề an toàn Nguyên Tử. Dịp này chất Plutonium không còn bị cấm cản tinh chế hay dự trữ, vì sự thật không thể kiểm soát được. Mới đây G7, Nga và các nước Thụy Sĩ, Bỉ, Liên Âu, Cơ quan năng lượng quốc tế (AIEA) lại họp tại Paris, để tìm phương cách ngăn cấm việc tinh luyện Plutonium vào mục đích quân sự. Có nhiều biện pháp được đề nghị nhưng cuối cùng gần như bế tắc, vì hiện nay đã có hằng trăm tấn Phlonium tồn đọng trên thế giới, trong số này đã có một lượng lớn đem bán cho các nước để làm Bom Nguyên tử, trong đó có Ba Tư và các Tổ chức Khủng bố Quốc tế.

            Ðức thường tự hào về hàng rào Quan Thuế và Ðội Cảnh Sát đặc nhiệm (BND) thế nhưng Pltonium từ Nga cũng vẫn lọt rào vào ngày 10-8-1994, trong chuyến bay của Hảng Hàng Không Ðức Lufthansa, mang số LH3369, đã phát hiện ba hành khách Tây Ban Nha + Columbia, đã mang theo 50 gam chất Plutonium đã tinh chế, sẳn sàng làm bom NT, trong lúc đó Iraq chỉ mới chế được chưa tới 10 gam chất Plutonium, thì đã bị thế giới la ó , cuối cùng đất nước tan hoang vì bom đạn .

            Tuy nhiên những vụ buôn lậu chất phóng xạ, không phải chỉ xãy ra ở Ðức mà còn phát hiện nhiều lầnợ tại Thụy Sĩ. Tháng 10-1991 cảnh sát Zurich đã phá vở vụ buôn lậu 1 kg chất Plutonium, tính chuyển sang Ðức. Ðiều quan trọng nhất là trong tất cả các dịch vụ trên, chỉ tóm được người bán hay kẽ vận chuyển, chứ không hề biết được ai là người mua ? kể cả báo cáo điều tra của chính quyền sở tại cũng thật mơ hồ nhưng lại muốn ám chỉ là của Liên Xô cũ. Dĩ nhiên Nga đâu có để yên, nên đã phản pháo lại “ Tại sao đã có hằng trăm vụ buôn lậu chất Plutonium ngay trên nước Ðức “ mà chính quyền chẳng cho biết ai là người mua, thì nội vụ đã được sáng tỏ.. Vã lại, đâu phải chỉ có Nga mới có chất Plutonium ? ‘.

            Nhưng sự kiện trên đã không còn là lời qua tiếng lại giữa các nước dính líu, mà trở thành một điểm nóng tại Ba Tư, một quốc gia Hồi giáo ở Trung Ðông. Theo nhận xét chung của hầu hết các phân tích gia chính trị quốc tế, thì rõ ràng Tổng thống Iran là Mahmoud Ahmadinejad đang làm xiết trên dây, đưa đất nước mình vào hố chiến tranh hủy diệt, khi công khai thách thức và đương đầu với Hoa Kỳ, Do Thái và Liên Âu, về việc mình đang tiếp tục tinh luyện Plutonium và trên hết là đã có sẳn một trái Bom Nguyên Tử chờ hủy diệt Do Thái. Dĩ nhiền Irael, một cường quốc NT thứ ba trên thế giới hiện nay, trong kho đang chứa hằng ngàn vũ khí hũy diệt tối tân không thua Mỹ Nga, còn vượt trội hơn Anh-Pháp, có bao giờ để Ba Tư múa may quay cuồng và ra tay trước. Ngày tận thế của nhân loại đang chực chờ, vì một cuộc chiến NT không biết sẽ nổ ra lúc nào, vì chẳng ai biết được kể cả Mỹ-Nga.

            Cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975) vô cùng ác liệt, do khối Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế dàn dựng xâm lăng. Người Mỹ dùng chiêu bài Tự Do-Dân Chủ, để có cớ can thiệp, cứu giúp VNCH. Nhưng thực chất cuộc chiến, cũng chẳng qua vì chiến lược, muốn lôi kéo Trung Công thành một Ðồng Minh , để chống lại Liên Xô trong Chiến Tranh Lạnh. Ðó là ý nghĩa Cuộc Ðông Du Ký vào năm 1972 của Cặp Nixon-Kissinger tại Bắc Kinh thăm viếng Mao Trạch Ðông-Chu Ân Lai. Sau đó , năm 1973 ký Hiệp định ngưng bắn với Cộng Sản Bắc Việt. Ngày 29-4-1975 chính thức bỏ Sài Gòn chạy trên mái nhà. Ngày 30-4-1975, VNCH bị cưởng chiếm, qua lệnh đầu hàng của TT.Dương Văn Minh. Người Mỹ hoàn thành thế chiến lược quốc tế, thuyết phục được Trung Cộng thành đồng minh , đứng về phe mình, chống lại Liên Xô.

            Năm 1979, Tổng Thống Jimmy Carter ký Hiệp ước với Ðặng Tiểu Bình về quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung Cộng, để chống lại Liên Minh Quân sự Liên Xô-Việt Cộng-A Phú Hản. Dựa vào bình phong Mỹ, Trung Cộng đã công khai xâm lăng tấn chiếm lãnh thổ VN. Ngược lại Hoa Kỳ cũng dựa thế liên minh Mỹ-Hoa, làm sụp đổ Ðông Âu và Liên Xô vào đầu năm 1990. Năm 1998, vợ chồng Tổng Thống Bill Clinton lại sang Bắc Kinh thăm Giang Trạch Dân, ký Hiệp Thương Kinh Tế nhưng thực chất chia hai thiên hạ, lấy con ngáo ộp Bắc Hàn qua Bom Nguyên Tử, để Hoa Kỳ có cớ tiếp tục hiện diện tại Ðông Á và Thái Bình Dương. Ngược lại, Trung Cộng được Mỹ bưng bợ vào LHQ một cách hợp lý, tham dự vào các Diễn Ðàn Quốc Tế, như là một cường quốc hiện tại.

            Ở Trung Ðông, ai cũng biết Osama Bin Laden và Saddam Hussein, đều được CIA nuôi dưỡng, võ trang và tài trợ lúc ban đều. Ngoài sự liên hệ trên, cả hai coi như kẻ tử thù, tuy về sau cùng trở cờ chống lại người Mỹ. Bởi vậy Saddam Hussein đã thẳng tay tiêu diệt Al-Qaeda và Nhóm Hồi Giáo cực đoan của Bin Laden. Ðó là điều mà Hoa Ky-Anh,ợ hiểu rõ hơn ai hết từ sau năm 1990. Nhưng Saddam Hussein lại là vua của Kho Dầu-Khí lớn thứ hai trên thế giới, nên phải bị tiêu diệt. Ðó là lý do, cho tới bây giờ cả TT.GW Bush hay Thủ tướng Anh Tony Blair.. vẫn chưa tìm thấy dấu tích hay bất cứ thứ vũ khí sát hai nào, có trên lãnh thổ Iraq hay sự cấu kết giữa Hussein, Bin Laden và tổ chức Hồi giáo cực đoan Al-Qaeda.

             Tóm lại tất cả cũng vì DẦU HỎA, được cả thế giới ngày nay, coi như một thứ vũ khí tối thượng của Ðế Quốc Toàn Cầu Mới. Vì Dầu Hỏa, Mỹ Nga luôn tranh chấp qua cuộc Chiến Tranh Lạnh nhưng gây cấn nhất là Miền Trung Á, Khu vực Caucase và nay Ðiểm Nóng đang dồn về Iraq và Iran, qua Danh Xưng ‘ Ngăn Chận chế tạo Vũ khí Nguyên Tử và Tiêu Diệt Khủng Bố ‘ , mà hầu như cả thế giới đều biết . Mở Lò NT để lọc Uranium kiếm Plutonium để dành làm Bom, ở đâu cũng có mà mới nhất là Brazil vừa tuyên bố khánh thành Trung tâm tinh chế Uranium tại Rio De Janeiro, chứ đâu phải chỉ có tại Ba Tư. Hơn nửa nếu Iran làm loạn, chừng nào mới tới phiên Hoa Kỳ và Liên Âu nhảy vào, vì nước hứng chịu đầu tiên là Do Thái. Còn khủng bố ngày nay, đã vào tới tận Mỹ, Anh, Pháp, Nga cả Trung Cộng.

            Năm 1941 Gleen Seaborg Khoa học gia người Mỹ, đã tìm ra được chất Plutonium. Ðây là một hóa chất phóng xạ dễ tập trung hơn chất Uranium, rất hiếm quý trong tự nhiên nhưng nếu tìm thấy, lại ở dạng cực nhỏ lẩn lộn với quặng Uranium. Vì lý do khan hiếm, nên các nhà Bác học đã phải tinh chế chất Plutonium nhân tạo tại phòng thí nghiệm, qua phương pháp trộn lẫn Uranium 235 và 238, trong các lò phản ứng nguyên tử. Năm 1945, lần đầu tiên Plutonium được Hoa Kỳ ứng dụng vào mục đích quân sự, để sản xuất hai trái bom nguyên tử thả xuống Nhật Bản. Từ năm 1960, Pháp là một trong những quốc gia theo đuổi việc sản xuất chất phóng xạ nhân tạo, qua kế hoạch “ Poing Nucléaire “.Từ năm 1970 về sau, vì các quặng Uranium trở nên quý hiếm và đắt giá, nên Plutonium được thế giới xử dụng,,nhất là Hoa Kỳ, Liên Xô, Pháp, để thay thế Uranium trong các lò phản ứng. Nhưng chi phí điều hành các lò phản ứng rất cao, trong lúc đó nhiều quặng mõ Uranium mới lại được tìm thấy, khiến cho Pháp và nhiều nước khác phải đóng cửa nhà máy.

            Vấn đề nan giải nhất của thế giới ngày nay, đó là việc kiểm kê thật sự số lượng dự trữ Plutonium, mà Nga-Mỹ đã trưng ra 100 tấn hiện có. Trong khi Anh-Mỹ lúc nào cũng muốn thổi phòng chuyện chế tạo chất phóng xạ Plutonium, thì tại Nga và các nước Cộng Hòa chư hầu cũ của Liên Xô bị rẽ rúm như cỏ rác. Ở đây, người ta dễ dàng lượm nhăt một lượng chất phóng xạ, đủ chế tạo được 20 trái bom nguyên tử. Khắp nơi, nhiều kiện hàng chứa Plutonium, sẳn sàng chuyển tới Teheran (Ba Tư). Kinh khiếp nhất là tại Một Tổ Hợp Sản Xuất Bom NT của Nga, có hàng tấn chất Plutonium (Pu), được chứa trong một ngôi nhà cũ kỷ, chỉ có hai người và một con chó bảo vệ.

            Do đồng lương chết đói, cộng với việc đánh cắp chất Plutonium quá dễ dàng, chỉ cần một chiếc vali lót chì, là có thể chuyển chất phóng xạ đem bán khắp nơi, nên người Nga nào có dịp cũng muốn làm giàu qua dịch vụ béo bở nhất hiện nay. Ðó là buôn bán chất phóng xạ, mà khách hàng quen thuộc vẩn là các nước Ả Rập giàu có, Ba Tư và đâu có thiếu người Mỹ. Ngày 12-11-1994, Kazakhstan đã bán cho quân đội Mỹ 2,3 tấn vật liệu phân hạch, trong số này có 500 kg WGU (weaponsgrade uranium), có thể tinh chế được 20 trái bom NT. Việc mua bán được che đậy bằng một kế hoạch mang tên Project Sanphire, ngoài mặt thì chính phủ nước này đề nghị Mỹ giúp tống khứ những chất liệu Nguyên Tử, mà người Nga khi rút đi đã bỏ lại tại nhà máy luyện kim Ulba.

             Ðịa điểm này bị Nga bỏ hoang hằng chục năm qua và đã được bán lại cho Ba Tư , mà bằng chứng là còn nhiều thùng gổ chứa nguyên liệu chế tạo bom nguyên tử, đề địa chỉ Teheran nhưng chưa gửi kịp. Tuy nhiên đây cũng chỉ là một trong hằng trăm địa điểm của Liên Xô cũ đã phá sản, không hề có an ninh, kiểm kê, khiến cho bọn khủng bố hay kẽ trộm, có thể đánh cắp dễ dàng để làm bom nguyên tử. Hiện người Nga đang tiến hành việc tháo gở 40.000 đầu đạn nguyên tử, đã được gắn khắp nơi ở Liên Xô cũ, với mức độ 2000-3000 trái /1 năm. Tình trạng này đã gây nên sự thất thoát trầm trọng và đầy hiểm họa cho nhân loại, vì việc phổ biến nguyên tử bừa bãi mà điển hình là Bắc Hàn và Ba Tư.

            Tóm lại ngày nay, chế tạo một trái bom nguyên tử quá dễ dàng, với vật liệu và vài nhà vật lý, kỹ sư và các bí quyết, cùng ngân khoản chừng 300.000 đô la. Cái khó nhất trong quá khứ, là làm sao để có vật liệu, tức là việc sản xuất Pu hay HEU (High enriched uranium), những thứ này như đang bị vứt bỏ trên khắp lãnh thổ Liên Xô cũ., có tiền là mua mang về mà không cần phải mở lò Nguyên Tử vừa phiền toái lại bị LHQ và Mỹ bắt chẹt.

            Từ năm 1970, Hoa Kỳ đã khởi xướng Hiệp Ước không phổ biến vũ khí hạt nhân và tới nay đã có 178 nước ký nhận nhưng Ba Tư, Nam Dương, Ấn, Hồi và Mễ Tây Cơ không muốn tham dự, nêu lý do là Do Thái đã không chịu ký hiệp ước, mặc dù đã có 14 nước Trung Ðông từng thúc giục. Nhưng họp thì họp, trong lúc đó nhiều nước cứ công khai như Pháp, Trung Cộng hay âm thầm như Do Thái, Ả Rập Thống Nhất, Bắc Hàn, Ba Tư, Ấn, Hồi .. vẫn đều đặn sản xuất Plutonium để làm bom NT.

            Tháng 9-1995, bất chấp sự phản đối của thế giới, người Pháp đã tiến hành đồng lúc 8 cuộc thử nghiệm bom NT, để bổ sung cho 18 Hỏa Tiển đang đặt ở căn cứ quân sự Albion, bằng đầu đạn TN-75 hay loại hỏa tiển M-45, trang bị cho các tàu ngầm nguyên tử. Ðây cũng là mục tiêu của Pháp đang theo đuổi, sẽ chế tạo được Hỏa tiển M-5 với đầu đạn TN-100, hoàn toàn mới, được trang bị cho các tàu ngầm NT. Ðồng thời cải tiến hệ thống phòng thủ, tấn công của Hỏa tiển ASLP, có thể gắn trên máy bay phản lực chiến đấu Rafale. Có điều mai mĩa là trong vụ này, người Mỹ cũng đã nhúng tay giúp về khoa học và bán các loại máy gia tốc chụp tia X và máy điện toán Cray T3E. Cần biết thêm là Pháp bắt đầu thử nghiệm Bom NT, theo lệnh của TT.De Gaulle tại Sa mạc Sahara ngày 13-2-1960, trong khi đó Mỹ và Liên Xô đã ngừng thử nghiệm Nguyên Tử, từ tháng 11-1958 cho tới tháng 9-1961, mới chạy đua trở lại vì chiến tranh lạnh.

            Tại Nam Á, hai nước Ấn và Hồi luôn luôn coi như tử thù, vì vậy không ngớt chạy đua trong việc tìm tòi, sản xuất các loại vũ khí chiến lược, trong đó có bom NT. Mấy năm nay, Hồi quốc coi như đã hợp tác với Hoa Kỳ, trong cuộc chiến tại A Phú Hản vào năm 2001. Trong chuyến công du thế giới của Nữ Ngoại Trưởng Mỷ, bà Condoleezza tháng 3/2006, đã mang theo ân huệ của TT Bush, ban cho Ấn Ðộ, về một thỏa hiệp song phương, giúp cho nước này phát triển vũ khí Nguyên Tử, dù rằng Ấn chẳng bao giờ chịu ký Hiệp Ước NPT. Hành động trên của Mỹ hoàn toàn đi ngược với lời hô hào của chính người Mỹ, về tinh thần tôn trọng các Hiệp ước quốc tế, mà phần lớn Mỹ là tác giả.

             Ai cũng biết, Hồi và Ấn , dã không chịu ký tên vào Hiệp ước NPT, lại tự ý phát triển sản xuất bom NT, nên đã bị Hoa Kỳ trừng phạt bằng biện pháp cấm vận kinh tê-quân sự. Ðiều này, Mỹ cũng đang muốn áp dụng với Ba Tư, Bắc Hàn và các nước khác, không chịu theo lệnh kiểm soát của Cơ quan Nguyên tử Quốc tế (IAFA) . Nhưng khi Tổng thống Hồi Quốc Pervez Musharraf theo Mỹ chống Taliban, thì Hoa Kỳ đã như muốn quên ngay lệnh cấm vận với nước này. Riêng Ấn Ðộ, một đồng minh chiến lược mới của Mỹ tại Nam Á, trong Liên Minh Quân Sự chống Trung Cộng, chẳng những được bỏ lệnh cấm vận, mà Hoa Kỳ còn yêu cầu, được giúp đở và viện trợ kỹ thuật cho nước này. Bất công như vậy, trách sao Bắc Hàn, Ba Tư luôn chống đối và coi thường nước Mỹ. Ðây cũng là lý do, khiến cho thế ngoại giao của Mỹ càng lúc càng thất bại, lẽ loi, mất đồng minh kể cả những nước đang ngửa tay xin tiền Mỹ như Phi Luật Tân, Ai Cập, Thái Lan, Nam Hàn.

            Tháng 12-2010 Tổng Thống Mỹ đang vận động Quốc Hội đồng thuận, để sớm ký Hiệp Ước “ cắt giảm vũ khí chiến lươc với Nga “ cũng không ngoài mục đích “ thủ lợi “ như quá khứ người Mỹ đã làm .

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 11-2010
HỒ ÐINH

Thursday, November 25, 2010

VÁN BÀI LIÊN MINH VIỆT MỸ, QUA CÁC CHUYẾN VIẾNG THĂM CỦA HAI PHÍA



            Tới nay, qua bộ máy tuyên truyền của đảng, khiến cho ai cũng tin rằng người Mỹ hiện rất cần “ cái thị trường to lớn béo bở của VN “, vì vậy CSVN muốn đòi hỏi bất cứ điều gì Hoa Kỳ cũng phải cung ứng đầy đủ, kể cả sự hy sinh “ dân chủ, nhân quyền “ mà nước Mỹ luôn coi là mục tiêu tối hậu của mình, qua bất kỳ tổng thống nào dù thuộc đảng cộng hòa hay dân chủ . Ðiều này cũng đã được nhiều nhà chính trị trên thế giới đồng thuận khi đem hai tập đoàn đại tư bản Mỹ đang làm ăn tại VN là Bill Gate và Intel ra chứng minh, rồi kết luận “ chính quyền Mỹ bị các tập đoàn tài phiệt giựt dây nên chỉ biết phục vụ cho đại tư bản “.

            Giờ thì ai cũng biết rõ ràng, CSVN luôn che dấu sự thật để thổi phòng và bóp méo lịch sử . Bởi vậy ở đâu Hà Nội cũng to miệng tuyên bố “ cần quan hệ kinh tế nhưng không được can thiệp vào nội bộ lẫn nhau “.Chính những lời quảng cáo này, đã khiến cho Hoa Kỳ “ phải lật ngữa con bài tẩy trong ván bài quan hệ chiến lược “ giữa ba nước Việt Nam-Trung Cộng và Hoa Kỳ, qua các chuyến thắm viếng giữa các phía.

            Tất cả gần như là những trận hỏa mù, mà Hoa Kỳ cố tính thả ra để cho VC càng lúc càng thấy mình quan trọng và cần thiết nhất tại Ðông Nam Á, đến độ Mỹ chỉ được đóng vai trò bảo vệ cho đảng CSVN mà thôi, duy nhất chỉ vậy và đó cũng là ý nghĩa của “ sự quan hệ chiến lược “ mà Hà Nội đã vọng tưởng.

            CSVN ngày nay gần như khinh thường tất cả công luận thế giới, trong đó có cả Liên Âu, Úc, Canada.. là những thị trường to lớn mà hàng hóa VN rất cần để mua bán trao đổi. Với Hoa Kỳ là đối tượng quan trọng nhất trong sự sinh tồn của VN chống lại Tàu đỏ, thì VC còn hung hản hơn, có thể nói là láo xược chẳng khác gì trước năm 1975, qua nhiều hành động khinh thường công pháp quốc tế, như vụ hạ nhục và chụp mũ “ khủng bố “ bà Dân Biểu Loretta Sanchez, từ Mỹ sang Hà Nội thăm vợ các nhà tranh đấu đang bị cầm tù. Chẳng những Hà Nội lên mặt dạy bảo Hoa Kỳ về luật pháp, ngoại giao.. khi ngạo nghễ xua Công An ngang nhiên đàn áp bắt bớ những người chống đối đảng, mà còn viết báo phỉ báng Hạ Viện Mỹ khi cơ quan này đồng thanh (100%) chỉ trích hành động vi phạm nhân quyền tại VN.

            Trước những sự kiện nổi điên đột ngột của CSVN có thể nói là hung hãn chưa từng thấy, tại sao vậy ? Ðó là vì VC tự mình quá huyển hoặc về cái gọi là “ thế chiến lược của mình “ trên bàn cờ chính trị thế giới, đặc biệt là sự liên quan với Trung Cộng và Hoa Kỳ. Trong ảo tưởng đó, khiến cho VC tưởng rằng thiên hạ ai cũng phải cần tới mình, vì vậy sẽ không có ai kể cả người Mỹ, dám ngăn cản chống đối sự ngang ngược lố lăng, hành động cướp bốc khủng bố đồng bào trong nước.

            Sau nhiều năm mở cửa, phát triển kinh tế theo tư bản chủ nghĩa, Trung Cộng ngày nay đã trở thành một cường quốc thật sự về mọi mặt, kể cả việc thám hiểm không gian vũ trụ. Ðây là một nguy cơ thật sự đối với VN vì sự tiếp giáp địa lý, nên dù muốn hay không, người Tàu lúc nào cũng coi vùng này như một tiền đồn, ngăn cản họ trên đường bộ tiến xuống vùng Nam Á. Ðó cũng là lý do Hoa Kỳ đã phải thay đổi chiến lược để phù hợp thực tại, ngược lại Trung Cộng thì muốn biến VN thành một chư hầu, để ngăn cản sự hiện diện của Hoa Kỳ tại tiền đồn sát nách mình. Ðó là cục diện khiến VC lên mặt với thế giối ngày nay.

            Cũng vì không muốn VN bị lệ thuộc hẳn vào đế quốc đỏ, để rồi trở thành vết dầu loang nhuộm đỏ các đồng minh của mình trong vùng như Thái Lan, Mã Lai Á, Tân Gia Ba, Nam Dương.. nên Hoa Kỳ qua nhiều đời Tổng Thống từ năm 1990 tới nay, mà cao điểm là thời TT W.Bush đã chủ động tìm tới kết thân với VC, vực dậy “ một cái xác chết chưa chôn “ như TT Nixon đã làm với Trung Cộng từ năm 1972 “, qua những khai thông bế tắc của VN trên con đường hội nhập vào quốc tế, qua sự giúp đở đầu tư, bảo trợ vay nợ cũng như mở rộng thị trường Mỹ, để nâng đở hàng hóa xuất cảng của VN.

            Tất cả những hành động trên của Hoa Kỳ, chẳng những giúp VN phát triển về kinh tế, mà còn được coi như là một bảo đãm về chính trị trong vùng, khiến cho Trung Cộng cũng phải xét lại thái độ và hành động của mình, mà bớt đi phần nào sự hung hăng bắt nạt VN như trước. Nhưng VC quá tham lam và đần độn, đã không tự nhận biết mình là ai và đang đứng ở chổ nào, giống như thời kỳ trước, cứ hung hăng phách lối, ngay cả lúc Nguyễn Minh Triết tới Mỹ cầu cạnh nguời nhưng miệng cứ “ Trung Cộng vẫn là đối tác hàng đầu của VN “.Trước những chuyện đầy lố bịch trong quan hệ Mỹ-VC, nhiều người đã thắc mắc rằng “ VC có ưu tiên gì khiến cho người Mỹ phải chịu nhượng bộ, kể cả vùi dập luôn danh dự của một siêu cường đứng đầu thế giới, khi làm lơ để dung dưỡng cho VC đàn áp khủng bố bốc lột đồng bào VN ?

            Nói một cách thẳng thừng, thì chính VC là kẻ phải nhờ sự giúp đở của Hoa Kỳ để sống còn trước Trung Cộng. Nhìn lên bản đồ Ðông Nam Á ngày nay, VN thật sự không chiếm giữ một vai trò chiến lược nào, ngoài việc có chung biên giới và lãnh hải với Trung Cộng. Những bài học địa lý chỉ có giá trị trong các thập niên 40-50 của thế kỷ XX, được VC thổi phồng trong các sách giáo khoa nhồi sọ trẻ em trong nước, nay đã lổi thới trước xu hướng phát triền toàn cầu và cũng không phải là cửa ngõ duy nhất để vào khu vực Ðông Nam A,Ử mà chỉ là con đường bộ để đi vào các tỉnh Nam Trung Hoa. VN cũng không phải là một vị trí chiến lược quan trọng trong hải lộ Thái Bình Dương, nếu so với các nước Phi luật Tân, các đảo Hoàng Sa, Hải Nam, Hồng Kông (thuộc Trung Cộng) dù VN có bờ biển dài trên mấy ngàn cây số. Tóm lại, ngoài Trung Cộng cần tới VN, tất cả các nước khác kể cả Nga và Hoa Kỳ đều không cần dùng tới cửa ngõ VN nhưng họ vẫn vào được vùng Ðông Nam Á.

            Tóm lại cái gọi là chiến lược mà VC đang huênh hoang khắp thế giới và Hoa Kỳ, chỉ là vấn đề sống còn của VN trước sự bành trướng của Trung Cộng. Biển Ðông, cửa ngõ của VN hướng ra thế giới bên ngoài, thật sự đâu có khác gì cái ao trong biển Thái Bình, nên chẳng ăn nhập gì tới eo biển Malacca thuộc địa vực ba nước Tân Gia Ba, Nam Dương và Mã Lai Á, là huyết mạch trên hải lộ từ Ấn Ðộ Dương tới Thái Bình Dương.

            Nên nếu có chiến tranh với Trung Cộng, dù có VN hay không, Hoa Kỳ vẫn có đủ chiến lược đối đầu với Tàu, qua các vị trí tại Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai Á, Tân Gia Ba.. Khi có chuyện xãy ra, chính VN mới là nước bị đe dọa trực tiếp. Nói một cách khác, tất cả các nước ở Ðông Nam Á trong đó có VN, đều cần tới sự bảo vệ giúp đỡ của Hoa Kỳ. Như vậy trong “ ván bài quan hệ chiến lược “, dù Hà Nội hung hăng tráo trở, nhưng mọi người đều thấy rõ thực chất “ VC là đồng minh của ai ?” và chính ai mới cần tới ai trong ván cờ chiến lược toàn cầu ? Bi hài nhất trong vở kịch đồng minh chiến lược “ VC - Hoa Kỳ “ vẫn là “ chống Mỹ cứu nước “ mà CSVN đã liên tục đầu độc qua nhiều thế hệ VN trước và sau 1975, qua tài liệu sách báo bảo tàng và mới nhất là vụ kiện chất độc màu da cam, như là tội ác của Mỹ trên đất Việt. Như vậy chẳng lẽ Hoa Kỳ ngu muội đến mức phải hy sinh danh dự của một siêu cường, để bao che cho một đảng cướp đang khủng bố đồng bào và chà đạp nhân quyền, dân chủ trong nước ?.

            Trước chuyến đi Mỹ của tập đoàn Nguyễn Minh Triết, nhiều dấu hiệu cho thấy đã có sự trục trặc trong quan hệ chiến lược giữa VC và Hoa Kỳ. Cái ngu nhất của VC là công khai để lộ nguyên hình thân Tàu quá lộ liễu, nhất là lúc đang đi dây giữa Trung Cộng và Mỹ để hưởng lợi. Không như lúc trước đứng làm ngơ hay phản ứng cho có lệ, lần này Hoa Kỳ đã phản ứng thật mạnh mẽ trước hành động đàn áp nhân quyền và dân chủ tại VN.

            Năm 1927, Tổng thống Coolidge và phu nhân mở tiệc khoản đãi các phái bộ ngoại giao. Trong bữa tiệc, người ta xếp phu nhân của đại sứ Bỉ ngồi cạnh viên đại sứ đầu tiên của Ðức, kể từ sau Ðại Chiến lần thứ I (1914-1918), đồng thời còn kiêm thêm chức giám đốc KRUPP. Vị phu nhân trên đã tuyên bố thẳng thừng trước mặt mọi người “ Tôi không ngồi cạnh tên sát nhân này “.Tái mặt trước một sự kiện bất ngờ, các viên phụ tá tức tốc phải đổi chỗ ngồi cho bà. Sau đó, Tổng thống Coolidge ra lệnh cho Bộ Ngoại Giao chỉ định một trưởng ban Nghi lễ tại Bạch Cung để lo việc tiếp tân.

             Ðiều này cho thấy người Mỹ rất coi trọng tới các qui tắc ngoại giao nhưng tại sao lại cắt bỏ các nghi lễ , khi đón tiếp Nguyễn Minh Triết tại Bạch cung lúc y sang thắm Mỹ quốc ? Sự kiện này đối với các nước dân chủ văn minh là một biến cố lớn làm nhục quốc thể nhưng với CSVN lại là một chuyện bình thường, vì nhiệm vụ của Triết tới đây, chỉ để cầu cạnh Hoa Kỳ đổ tiền vào nuôi béo đảng và sự giúp đỡ về kinh tế, quân sự cho VN. Tóm lại ngày nào Chính phủ Hoa Kỳ còn chưa tỏ rõ lập trường chính trị dứt khoát đối với VC, chừng đó đừng mong đảng dừng tay hay nhân nhượng với ai về nhân quyền, dân chủ.

            Tháng 5-1989, khắp nước Tàu rung chuyển trước phong trào đòi dân chủ của giới trẻ và sinh viên học sinh, chống lại chủ nghĩa khủng bố cùng bọn lãnh tụ già nua tham quyền háo lợi chóp bu đảng. Bất chấp nguyện vọng và quyền sống của dân nước cùng dư luận của thế giới, Ðặng Tiểu Bình đã tàn nhẩn ra lệnh cho quân đoàn 27 phối hợp với công an, bộ đội Bắc Kinh, dùng xe tăng, trọng pháo, các loại súng liên thanh, trực xạ xối xã vào đám đông đang biểu tình đòi quyền sống, trong tay không có vũ khí. Cuộc thảm sát đã giết chết hằng vạn đồng bào mình, vào ngày 4-6-1989, biến quảng trường Thiên An Môn thành cảnh núi xác sông máu, đã làm hiện nguyên hình lũ bạo chúa thời đại của thiên đàng vô sản chuyên chính, để cho nhân loại nguyền rũa đời đời. Nhưng bạo tàn xưa nay sớm muộn gì cũng bị tiêu diệt, bởi vậy các chế độ cọng sản tại Ðông Âu đua nhau sụp đổ vào năm 1989.

Trong lúc chính thành đồng Mác-Lê Liên Xô cũng đang tơi tã vì bánh xe lịch sử đã xoay chuyển một cách quá bất ngờ, thì tại Lỗ Mã Ni vào ngày 2-8-1989, trước nhiều ký giả Tây Phương, vợ chồng bạo chúa Nicolae Ceausescu vẫn láo xược thách thức với nhân loại, rằng xã hội chủ nghĩa sẽ bách chiến bách thắng.. Rồi cũng như tại Thiên An Môn mấy tháng trước, Caeusescu ra lệnh cho công an, mật vụ dùng trực thăng, xe tăng, súng các loại, tàn sát tất cả những người biểu tình phản đối, trong đó có rất nhiều người già, đàn bà và trẻ nít. Trước cảnh bắn giết người dân vô tội khắp nơi, mà đẳm máu nhất tại thành phố Timiosara, nên quân đội Lổ đã phải đứng dậy, sát cánh cùng với toàn dân, tiêu diệt bầy ưng khuyển công an-mật vụ, treo cổ vợ chồng tên đồ tể Ceausescu, chấm dứt chế độ độc tài cọng sản tại nước này.

            Năm 1978, tướng Ion Mihai Pacepa trưởng cơ quan tình báo Lỗ, cũng là người rất được vợ chồng Ceausescu tín nhiệm hết mực nhưng không biết vì lý do gì, đã bỏ đảng, chạy vào Sứ quán Hoa Kỳ tại Bonn (Tây Ðức) để xin tị nạn chính trị, đồng thời viết hồi ký công bố tội ác của đảng cọng sản Lổ . Nhờ vậy, thế giới văn minh mới phần nào biết được chuyện thâm cung bí sử nơi thiên đàng xã nghĩa, trong đó có chuyến công du “ thăm Hoa Kỳ “ của vợ chồng Ceausescu vào năm 1978. Cũng qua hồi ký trên mới biết, từ năm 1972 đảng cọng sản Lỗ đã phát động một chiến dịch có tên “ Chân Trời “, nhằm mục đích tuyên truyền dụ dổ các nhà tư bản Tây Phương nhẹ dạ, qua lợi nhuận hứa hẹn cùng vàng bạc mua chuộc, để giúp đảng đề cao hình ảnh lãnh tụ “ Ðộc tài khát máu Ceausescu “, trên các diễn đàn kinh tế và chính trị quốc tế. Cuối cùng tên khát máu cũng đã đạt được mục tiêu chiến lược, qua các cuộc gặp gở, móc nối với đủ loại thủ lĩnh, từ nguyên thủ quốc gia cho tới các bố già xếp trùm buôn lậu khủng bố quốc tế, mà đỉnh cao là cuộc gặp mặt tổng thống Mỹ lúc đó là J.Carter, tại Tòa Bạch Ốc vào năm 1978.

            Nhưng tin tức trên đã bị lộ, bởi vậy khi máy bay vừa tới phi trường quốc tế Kennedy tại New York, vợ chồng tên độc tài đã được hơn 5000 người Hung và Lỗ tị nạn, dàn chào biểu tình la hét đã đảo ngay trước cửa Waldorf Astoria, lối ra khỏi sân bay dẫn về thành phố Nửu Ứớc. Báo hại đoàn xe phải dùng đường hầm ngả hậu, mới thoát được trận cuồng nộ trùng trùng của kiều bào. Tại khách sạn nơi phái đoàn Lổ dừng chân, một rừng người biểu tình khác cũng đông đảo không thua gì tại phi trường, gần như bít hết mọi lối vào với vách biểu ngữ, biển cà chua, trứng thối và bão âm thanh, cuồng nộ gào thét, đã đảo như xé tan bầu trời nước Mỹ, khiến cho pho tượng Nữ Thần Tự Do cũng xao động vì phải chứng kiến sự biến thái của chính quyền Mỹ lúc đó, chỉ vì lợi mà đánh mất cái danh dự của một nước đang dẫn đầu khối thế giới tự do .

Trên đường về, chiếc xe Cadillac màu đen của vợ chồng bạo chúa nước Lỗ, được cà chua trứng thối nhuộm thành màu đỏ máu. Ngay lúc xe vào được bên trong, vẫn còn bị đoàn biểu tình ngăn lối, may nhờ có một lực lượng hùng hậu gồm cận vệ Lỗ, FBI và cảnh sát Mỹ tận tâm bảo vệ, mới đưa được vợ chồng tên khủng bố lên phòng, lúc đó gần như chỉ còn là hai cái thây người không hồn, vì quá sợ hải, trước đám đông muốn phanh thây xé xác mình.

‘ Tên giết người, tên tội phạm ! Ceausescu, Idi Amin ‘ những tiếng la hét đả đảo cọng sản khát máu, được khuếch đại qua loa phóng thanh, từ dưới phố tràn vào căn phòng ngủ của vợ chồng bạo chúa cao tít tận tầng lầu 28, khiến không ai nuốt trôi vào miệng, những món cao lương mỹ vị dành cho bửa ăn tối, do chính đầu bếp của đảng, mang từ Lổ sang nấu nướng trong khách sạn. Mọi thức ăn uống của Vua và Hoàng hậu đỏ, trước khi dọn lên bàn ăn trong phòng ngủ, cũng đã được viên tướng quân y tên Popa, kiểm tra, khử độc và nếm thử nhiều lần bằng máy móc cũng như miệng mình.
           
            Rõ ràng lích sử đã tái diễn tại nước Mỹ, năm 1978 vợ chồng tên độc tài cộng sản khát máu nước Lỗ bị đồng bào mình, làm cho nhục nhã nơi xứ người. Ba mươi bảy năm sau, từ 19-6-2005 tới gần đây, từ Phan Văn Khải, Nguyễn Minh Triết tới Nguyễn Tấn Dũng, đại diện cho đảng cọng sản , bạo tàn tham nhũng, đang hà khắc cai trị nước VN bằng thủ đoạn của kẻ xâm lăng chiếm đóng, đồng thời cũng là những thương nhân đứng đầu tập đoàn tư bản đỏ, hiện là thành phần giàu có nhất nước với tiền tỷ núi vàng, tới Hoa Kỳ với mục đích như vợ chồng bạo chúa nước Lỗ thuỡ trước, qua lớp võ hào nhoáng ngoại giao nhưng thực chất là tung tiền kiếm được bằng tham nhũng, bán nước, buôn dân VN, để mua dư luận báo chí truyền thông, để vừa đánh bóng đảng cầm quyền, vừa rao món hàng 80 triêu lao động trong nuớc.. Tại đây, những chóp bu trên và đoàn tuỳ tùng đông đảo hơn vài trăm nguời, từ chủ cho tới tớ, tên nào mặt mũi cũng no tròn, quần áo bãnh bao, ngự trên những chiếc xe hơi sang đẹp đắt giá. Ðó là tiền vàng mà đảng kiếm được, từ máu thịt, mồ hôi nước mắt của đồng bào và từng tất đất quê hương đem dâng bán cho ngoại bang trong ba mươi lăm năm qua.

Sự may mắn của tập đoàn VC là ở đâu trên đất Mỹ, chúng cũng được đồng đô la bảo vệ chặt chẽ, nên không hưởng được những sự căm thù nguyền rũa tận mặt của hằng trăm ngàn nạn nhân như tên Trần Trường từng nếm trong quá khứ. Tóm lại, người Việt bây giờ không giống như trước năm 1975, qua kinh nghiệm cả trăm lần, bị các lãnh tụ dụ dỗ lường gạt để bán mạng cho chúng một cách mù quáng, nên đã không còn ai, kể cả đảng viên hiện sống trong nước, tin nghe nhửng lời láo hứa và tuyên truyền rẽ mạt của VC hay những đài, báo tiếng Việt ở hải ngoại, ham tiền đang làm công cụ cho ngụy quyền.

Suốt một thập niên qua, khi thế giới đi vào xu hướng toàn cầu hóa thì chủ nghĩa khủng bố cũng thay đổi bộ mặt và là công cụ phục vụ cho bọn lãnh đạo độc tài khắp năm châu, trong đó có đảng VC. Tại Hoa Kỳ sau biến cố lịch sử 9-11-2001, làm sụp đổ hai tòa cao ốc tại khu thương mại quốc tế ở New York, thì Tổng thống W.G.Bush luôn nói tới việc diệt trừ khủng bố mà ai cũng đã thấy qua các cuộc chiến tại A Phú Hản, Iraq, Phi Luật Tân.. vừa giúp Hoa Kỳ nhổ cỏ tận gốc tổ chức khủng bố Al-Qaeda, mà còn có cớ trở lại vùng Ðông Nam Á Châu, để lập lại những căn cứ chiến lược đã bỏ trống, từ sau khi rút khỏi Nam VN, với mục đích ngăn chống sự bành trướng của Trung Cộng xuống khu vực. Trong chiến lược toàn cầu này, CSVN được cả Trung Cộng và Hoa Kỳ để ý tới vì bản chất chịu làm đầy tớ bất cứ ai, miễn các ông chủ chịu bỏ tiền mướn thích đáng và trên hết là phải hứa bảo vệ mạng sống cá nhân cho lãnh tụ và sự tồn tại của đảng.

Ðó là lý do Hoa Kỳ đã chon liên minh quân sự với kẻ thù VC, qua lời tuyên bố công khai của đại sứ Mỹ tại VN là Marine vào ngày 3-2-2007. Sau đó còn công khai khiêu khích Trung Cộng, khi bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí, để VC từ nay tha hồ mua chịu quân nhu đạn dược của lái súng Hoa Kỳ, giúp tối tân quân đội VN vốn đã tuột dốc thê thãm vì tham nhũng, nên mạnh ai nay chỉ lo làm giàu. Có thể vì vậy, mà nhiều đời Tổng thống Mỹ bất chấp dư luận phê phán của thế giới, quên hết những lời tuyên bố mạnh mẽ trước kia, là chống các chế độ chuyên chế độc tài, để vực dậy cái xác chết chưa chôn của đảng CSVN, bằng hành động tô son đánh phấn, cho chủ nghĩa toàn trị, qua các thái độ thật đột ngột, khiến ai cũng phải khựng điếng , trước những ban phát liên tiếp nhiều ân huệ, của Tổng Thống W.Bush, dành cho đảng CSVN, từ việc bỏ tên Bắc Bộ Phủ ra khỏi danh sách CPC để đảng có điều kiện tổ chức hội nghị APEC tại Hà Nội với sự hiện diện của nhiều nguyên thủ quốc tế trong đó có Mỹ. Kế tiếp là cho qui chế PNTR và sau cùng được gia nhập WTO, coi như những thắng lợi vàng ròng, giúp đảng VC vẽ vang trên các diễn đàn ngoại giao quốc tế. Vì vậy, nên Mỹ đã làm ngơ trước sự bạo tàn của đảng, để chúng mặc sức khủng bố đồng bào.

             Bài học lịch sử đã quá rõ ràng, cho thấy xưa nay “ tự do được cho không, hoàn toàn chỉ là đồ giả mạo “ nên người dân bất cứ ở đâu muốn hưởng được tự do, dân chủ thật sự, thì phải dấn thân đấu tranh để giựt dành lấy nó. Ðây là động cơ chính, đã thúc đẩy triệu triệu người Việt cả nước, trong ba mươi lăm năm qua, kể từ ngày bị sống dưới ách nô lệ mới của đảng Cộng Sản, phải liều chết vượt biển tìm tự do, đồng thời tranh đấu không ngừng nghĩ, cho nền dân chủ thật sự của đất nước, qua khắp các nẻo đường lưu vong nơi hải ngoại. Tóm lại chừng nào VN còn độc tài khủng bố, ngày đó người Việt vẫn còn đấu tranh không ngừng, bởi vì đây là cuộc cách mạng đúng nghĩa của tuyệt đại đa số đồng bào thầm lặng không hề có tham vọng chính trị, trong đó có rất nhiều người lính già Miền Nam và con cháu của họ dấn thân tham dự.

            Liên minh chiến lược với Hoa Kỳ hay bất cứ một quốc gia nào chăng nữa, trước hết VN phải được độc lập có chủ quyền thật sự như Nam Hàn, Nam Dương, Ðài Loan, Mã Lai Á.. Còn hiện nay CSVN đang đô hộ VN, không hơn không kém chỉ là một quận huyện thuộc Tàu đỏ, thì có tư cách gì để quyết định “ chuyện nước non “ với Trung Cộng hay Mỹ ?!

           
Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 11-2010
Mường Giang